| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 293/2024/HSST
Ngày: 29/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Văn Quản
- 2/ Ông Huỳnh Hữu Tường
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 380/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1709/2024/HSST-QĐ ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, Giới tính: Nam. Sinh năm 1993; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: 549B đường H, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 280/24/12 đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn L; H và tên mẹ: Đỗ Thị Ngọc Q; hoàn cảnh gia đình: có Vợ tên Võ Thị Thanh N, có 01 người con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 28/02/2011, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt Nguyễn Ngọc T (đã trên 18 tuổi) 02 năm tù giam về tội Cướp tài sản (khoản 2 Điều 133) theo Bản án số 21/2011/HS-ST ngày 28/02/2011. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2013 và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 04191 ngày 01/12/2011 (Bút lục: 105-106).
- Ngày 07/10/2019, Tòa án nhân dân Quận Gò vấp, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắc buộc thời gian 18 tháng theo Quyết định số 319/QĐ-TA ngày 07/10/2019. Bị can chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào ngày 29/01/2021. (Bút lục:109-112)
Bị bắt từ ngày 17/5/2024 (Bl 02-04;07) - Có mặt
*Người bị hại: Chị Hà Thị Thúy N1, sinh năm 2003.
HKTT: 38, ngõ 14, dốc Vạn Kiếp, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội
Trú tại: 8/7, TA B, phường T, Quận A, TP . – Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1991
HKTT: Thôn Hà Thanh, xã Gio Châu, huyện Giao Linh, tỉnh Quảng Trị
Trú tại: 150, Tân Kỳ Tân Quý, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh – Vắng mặt - Ông Nguyễn L, sinh năm 1969
Trú tại: 280/24/12, đường T, khu phố B, phường T, Quận A, TP . Hồ Chí Minh - Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/05/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 5351-7971 đi từ nhà đến khu vực cầu V, đường T, phường T, Quận A đi tìm tài sản để chiếm đoạt. Khi đến trước Viện dưỡng lão N2, địa chỉ số B đường T, khu phố B, phường T, Quận A, T phát hiện Hà Thị Thúy N1, đang ngồi trên xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen biển số 29Y5-894.82 dựng xe mô tô trước địa chỉ trên, 02 tay chị N1 đang cầm điện thoại di động hiệu Apple iPhone 12 Promax nên T nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại nêu trên. T điều khiển xe chạy qua nơi chị N1 ngồi 01 đoạn rồi quay xe chạy vòng lại áp sát bên phải chị N1, dùng tay phải cướp giật điện thoại di động của chị N1 rồi chuyển qua tay trái cầm để bỏ điện thoại vào túi quần trái cất giấu. Sau đó, T điều khiển xe chạy tẩu thoát về hướng cầu “Sắt Sập”, ra đường L, thuộc phường T, Quận A. Khi đi đến gần cầu “Sắt Sập”, Thạch tháo ốp lưng điện thoại vứt bỏ rồi đi đến cửa hàng điện thoại di động “T-Phát Mobile”, địa chỉ số A đường T, phường S, quận T, do anh Trần Văn T1, làm chủ. Khi bán điện thoại di động thì T nói nhặt được trên đường (tình trạng điện thoại vỡ nứt) nên anh T1 có quay lại clip khi T đến bán điện thoại di động. Thạch bán được số tiền 2.500.000 đồng, T tiêu xài cá nhân hết 1.000.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 triệu tập Nguyễn Ngọc T đến trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. (Bút lục: 82-83,84-85)
Bản cáo trạng số 297/CT-VKS, ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi điều khiển xe mô tô áp sát chị Hà Thị Thúy N1 dùng tay phải giật điện thoại di động của chị N1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn L trình bày: Năm 2022 ông L mua lại xe mô tô biển số 52S1-7971 từ một người chưa rõ lai lịch rồi ông L cho T xe mô tô trên để sử dụng làm phương tiện đưa đón con đi học. Ông L không biết T sử dụng xe mô tô biển số 52S1-7971 làm phương tiện cướp giật tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T với mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do lười lao động, cần tiền tiêu xài. Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trước địa chỉ số B đường T, khu phố B, phường T, Quận A, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Dream mang biển số 53S1-7971 cướp giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax của chị Hà Thị Thúy N1 rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc T đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 446/KL-HĐĐGTS ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “01 điện thoại di động IPhone 12 Promax, số Imei 1:357014749543708, số Imei 2: 357014749457131 có giá trị là: 9.750.000 đồng” (Bút lúc: 116-117).
Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô giằng, giật điện thoại di động giá trị 9.750.000 đồng rồi bỏ chạy. Hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc T đã phạm tội theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 02 năm tù giam về tội Cướp tài sản. Năm 2019 bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp đưa vào cơ sở cai nghiện bắc buộc thời gian 18 tháng. Bị cáo đã được Nhà nước đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án, tiền sự, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại....... Để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Người bị hại đã nhận lại tài sản là điện thoại di động IPhone 12 Promax (Bút lục: 55; 124), không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 Xe mô tô nhãn hiệu Honda, Dream màu nâu, biển số 53S1-7971, số khung C100M0227872, số máy C100ME0227872, đã qua sử dụng (T dùng làm phương tiện cướp giật tài sản). Qua tra cứu, ghi nhận người đứng tên đăng ký xe là Phan Thị Nam T2. Qua xác minh, Phan Thị Nam T2 có đăng ký thường trú tại A N, phường G, quận B nhưng không còn ở tại địa chỉ thường trú, không rõ đang ở đâu nên chưa làm việc được (Bút lục: 36). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã đăng báo để lấy thông tin làm việc đối với T2 nhưng chưa có kết quả (Bút lục: 131). Qua làm việc, T trình bày là xe mô tô của T, do ông Nguyễn L (cha của T) cho để sử dụng từ năm 2022. Qua làm việc, ông L trình bày năm 2022 ông L mua lại xe mô tô nêu trên từ một người chưa rõ lai lịch rồi ông L cho T xe mô tô để sử dụng. Ông L không biết T sử dụng xe mô tô biển số 52S1-7971 làm phương tiện cướp giật tài sản (Bút lục: 63-64). Vì vậy cần giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô nêu trên. Nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 quần shorts màu xám đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen sọc đỏ; 01 nón bảo hiểm màu trắng đỏ đen, có ghi chữa Honda, đã qua sử dụng (T mang khi cướp giật tài sản). Cần tịch thu tiêu hủy
Đối với Tiền Ngân hàng N3: 1.500.000 đồng thu giữ của Nguyễn Ngọc T. Đây là số tiền do T bán điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Pro Max mà có. (Bút lục 127) cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Anh Trần Văn T1 khi mua điện thoại do Nguyễn Ngọc T bán. Anh T1 không biết tài sản T bán là do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự. Anh không yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc T hoàn trả số tiền 2.500.000 đồng (Bút lục: 66-67).
Do bị cáo còn hoàn cảnh khó khăn nên không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy: 01 quần shorts màu xám đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen sọc đỏ; 01 nón bảo hiểm màu trắng đỏ đen, có ghi chữa Honda, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Ngân hàng N3 1.500.000 đồng.
Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận A: Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với: 01 Xe mô tô nhãn hiệu Honda, Dream màu nâu, biển số 53S1-7971, số khung C100M0227872, số máy C100ME0227872, đã qua sử dụng. Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 260/QĐ-VKS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |
Bản án số 293/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 293/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản” Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
