Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 293/2024/HS-PT

Ngày 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Trần Ngọc Tuấn

2/ Ông Ngô Đức Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Đỗ Xuân Lượng, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 116/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024. Do có kháng cáo của các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khánh Trường H, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo kháng cáo:

  1. Lê Văn B, sinh ngày 20/10/1997 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh C; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2023 (Có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Anh T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

  2. Nguyễn Lâm Chí K, tên gọi khác: Khanh E, sinh ngày 06/10/2007 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí T1 và bà Huỳnh Thị Kim Y; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 10/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 23/2023/HS-ST, bị cáo chưa chấp hành án.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2023 (Có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyên Thị Thanh H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

  3. Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 29/3/2000 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn H2 và bà Nguyễn Thị Thu L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2023 (Có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Ngô Phương T2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

  4. Nguyễn Khánh Trường H, sinh ngày 14/5/2007 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Đ, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị Bích N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

    Người đại diện hợp pháp của bị cáo H: Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Ngô Phương T2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Trong vụ án này còn có bị cáo Đoàn Minh Đ1 không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:

Khoảng 01 giờ 30 ngày 21/01/2023, sau khi đã có uống rượu, bia, Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Đoàn Minh Đ1, Nguyễn Khánh Trường H cùng đến quán hủ tiếu của ông Nguyễn Văn B1 tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang để ăn tối.

Lúc này, anh Trần Công V1, sinh năm 1997, cư trú: ấp M, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Trần Thuận Ý, sinh năm 1997, Võ Tấn C1, sinh năm 1997, Trần Tuấn K1, sinh năm 1997; cùng cư trú: ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngồi ăn bàn bên cạnh và có nói chuyện, cười giỡn với nhau.

Do nghĩ rằng nhóm của V1 chế giễu nhóm của B nên K nói với B “Chơi tụi nó không anh?”, B trả lời “ừ ”. Sau đó, K điều khiển xe môtô biển số 62S2-5627 chở B; Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 63AN-020.17 chở H và Đ về nhà lấy hung khí. B lấy 01 con dao (loại dao mác dài khoảng 30cm), Đ lấy 01 con dao dài khoảng 15cm tại nhà B; K lấy 01 dao tự chế dài 1,8m tại nhà K; H lấy 01 vỏ chai sành tại quán cà phê dọc đường đi. Sau khi chuẩn bị hung khí, B, K, Đ1, Đ, H quay trở lại quán hủ tiếu tìm đánh nhóm của V1.

Khi đến nơi, B cầm con dao mác chạy thẳng đến chỗ V1, dùng dao chém nhiều cái vào người V1 nhưng V1 tránh được nên có 01 cái trúng vào tay trái của anh V1 gây thương tích, V1 bị chém trúng nên đẩy B té ngã rồi bỏ chạy. H ném vỏ chai sành về hướng V nhưng không trúng. Lúc này, anh Ý thấy vậy đến can ngăn thì bị Đ1 dùng 01 cái sọt bằng gỗ đánh nhiều cái trúng vào đầu. Sau đó, K, B tiếp tục dùng dao tự chế, dao mác chém liên tiếp nhiều cái vào đầu anh Y. Đ lấy con dao chuẩn bị trước đó đâm anh Ý nhưng khi rút ra lưỡi dao bị rớt xuống đất nên Đ dùng cán dao đâm vào đùi anh Ý. Sau khi thấy anh Ý bị thương, B, K, Đ1, Đ, H bỏ đi. Anh Ý được bạn đi cùng đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu và điều trị.

Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Đoàn Minh Đ1, Nguyễn Khánh Trường H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang lập lúc 09 giờ 00 phút ngày 29 tháng 01 năm 2023.

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 30/2023/TgT ngày 07/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận:

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Thuận Ý là 44% do vật sắc gây nên.

Cáo trạng số 50/CT-VKS-P1 ngày 20/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, có nội dung:

Truy tố các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Đoàn Minh Đ1, Nguyễn Khánh Trường H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, đã tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Đoàn Minh Đ1 và Nguyễn Khánh Trường H phạm tội “Giết người”.

  1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 13 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/02/2023.

  2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102; Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lâm Chí K 04 năm tù.

    Tổng hợp hình phạt của Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Chí K 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Chí K phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù đuực tính từ ngày 25/02/2023.

  3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Đ 12 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/02/2023.

  4. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khánh Trường H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, còn xử phạt bị cáo Đoàn Minh Đ1 03 năm tù về tội giết người, bị cáo không có làm đơn kháng cáo.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí và quyền kháng cáo, theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/12/2023, ngày 05/01/2024, ngày 06/01/2024 và 08/01/2024 các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Khánh Trường H và bà Nguyễn Thị Bích N (mẹ bị cáo H), đều làm đơn kháng cáo, nêu chung lý do:

Mức án sơ thẩm quá nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin được giảm nhẹ mức án, riêng bị cáo H và bà N còn xin cho H được hưởng án treo.

Ngày 09/01/2023, người bị hại ông Trần Thuận Ý cũng là đơn xin giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo B, bị cáo K, bị cáo Đ xin được xem xét giảm nhẹ mức án vì cho rằng gia đình các bị cáo hoàn cảnh khó khăn. Bản thân các bị cáo ăn năn hối hận, thật thà khai báo đã khắc phục một phần bồi thường thiệt hại cho phía gia đình bị hại. Bị cáo B còn cho rằng là gia đình bị cáo có người có công cách mạng. Các bị cáo đều xin được xem xét để giảm nhẹ mức án.

Bà N kháng cáo xin được xem xét cho con bà là bị cáo H được hưởng án treo vì cho rằng con bà còn nhỏ tuổi. Mọi hoạt động đều bị động, chưa đủ suy nghĩ và thiếu ý thức trong thực hiện hành vi của mình. Hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được xem xét cho con bà được hưởng án treo.

Luật sư Huỳnh Anh T bào chữa cho bị cáo B thì cho rằng bản án sơ thẩm xác định bị cáo chủ mưu cầm đầu xúi giục là chưa đúng, vì theo hồ sơ thể hiện thì các bị cáo đều có các hoạt động độc lập trong việc thực hiện hành vi phạm tội của mình. Bị cáo B hoàn cảnh gia đình khó khăn, thật thà khai báo, ăn năn hối hận. Bị cáo đã bồi thường số tiền lớn cho phía gia đình bị hại được bị hại xác nhận, sau khi xét xử sơ thẩm thì bị hại cũng có đơn xin được xem xét cho bị cáo B. Ngoài ra, gia đình bị cáo có công cách mạng xin được xem xét để giảm nhẹ thêm ở cấp phúc thẩm này.

Luật sư Nguyễn Thị Thanh H4 bào chữa cho bị cáo K thì cũng xin được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Luật sư Lê Ngô Phương T2 bào chữa cho bị cáo H và bị cáo Đ, cũng xin được xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo. Riêng bị cáo H thì xin được xem xét hưởng án treo vì bị cáo còn nhỏ tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, cho rằng các bị cáo đã có hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi phạm tội từng bị cáo, căn cứ các quy định của Bộ luật Hình sự, xét xử các bị cáo với mức án như trên là có căn cứ, hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Khánh Trường H và bà Nguyễn Thị Bích N (mẹ bị cáo H), làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Đoàn Minh Đ1, Nguyễn Khánh Trường H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kết luận giám định pháp y.

Nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định pháp luật để xét xử các bị cáo về tội danh “Giết người” là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng án lệ số 47/2021/AL về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại.

[2.2] Xét thấy, hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo B và Đ là người đã thành niên. Bị cáo K, bị cáo H phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi nhưng đều có khả năng nhận thức được hành vi phạm pháp của mình.

Chỉ vì cho rằng nhóm của người bị hại giễu cợt trong khi hoàn toàn không quen biết ai, không nghe thấy nội dung giễu cợt gì. Bị cáo K đã gợi ý việc đánh, chém nhóm bị hại. Bị cáo B thì giữ vai trò là người anh lớn tuổi trong nhóm, đồng ý với vai trò chủ mưu, tích cực thực hiện hành vi phạm tội cụ thể là dẫn các bị cáo khác quay về tìm hung khí đánh, chém nhóm của người bị hại.

Bị cáo K giữ vai trò đứng sau bị cáo B tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù bị cáo chưa đủ 16 tuổi, nhưng K cùng với các bị cáo khác như Đ1, H, Đ cũng tích cực thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc dùng hung khí đánh, chém nhóm của bị hại. Hậu quả làm cho nạn nhân là anh Ý bị thương với tỉ lệ thương tật là 44%. Việc anh Ý không chết là nằm ngoài ý muốn của các bị cáo.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định vụ án này có tính chất đồng phạm, trong đó B là người đã thành niên có hành vi xúi giục các bị cáo khác như K, H, Đ1 chưa đủ 18 tuổi phạm tội nên đã áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo B còn là người chủ mưu, trực tiếp, tích cực thực hiện việc đánh, chém người bị hại.

Đối với bị cáo Đ khi phạm tội đã trên 18 tuổi trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt đối với điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Bị cáo K thì chưa đủ 16 tuổi nhưng là người đầu tiên gợi ý việc đánh, chém đối với nhóm của bị hại. Bị cáo cũng tích cực thực hiện hành vi phạm tội, do đó phải chịu hình phạt như bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp.

Ngoài ra, K còn có một án tích bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử ngày 10/3/2023 xử phạt 02 năm 6 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa chấp hành bản án. Tòa án cấp sơ thẩm tổng hợp đối với bản án này, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là phù hợp.

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài những yêu cầu kháng cáo nêu trên, các bị cáo cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định. Bị cáo Nguyễn Khánh Trường H được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Khánh Trường H và bà Nguyễn Thị Bích N (mẹ bị cáo H).

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ, Đoàn Minh Đ1 và Nguyễn Khánh Trường H phạm tội “Giết người”.

  1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 13 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/02/2023.

  2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102; Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lâm Chí K 04 năm tù.

    Tổng hợp hình phạt của Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Chí K 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Chí K phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/02/2023.

  3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Đ 12 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/02/2023.

  4. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khánh Trường H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Lâm Chí K, Nguyễn Tấn Đ mỗi người nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Khánh Trường H (có bà Nguyễn Thị Bích N là đại diện hợp pháp) được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

  6. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang.
  • - TAND tỉnh Tiền Giang.
  • - Công an tỉnh Tiền Giang.
  • - Trại TG Công an tỉnh Tiền Giang.
  • - Cục THADS tỉnh Tiền Giang .
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 293/2024/HS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người

  • Số bản án: 293/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger