TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 293/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/4/2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
- Ông Nguyễn Đình Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 902/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Hoàng A, sinh năm 1989; Địa chỉ: A H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Quế A1, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: A H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – ông Cao Hoàng A trình bày:
Ông A và bà Nguyễn Thị Quế A1 đã tự nguyện tìm hiểu, chung sống, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130 do Ủy ban nhân dân Phường A2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/8/2018.
Sau khi kết hôn, quá trình chung sống, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông A1 là về vấn đề kinh tế khó khăn thời điểm sau dịch Covid 19, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và có những hành động và lời nói không phù hợp dẫn tới kết quả không thể chung sống với nhau được nữa, cụ thể là trước đó vợ chồng làm ăn có vay vàng của chị vợ, khi vợ chồng gặp khó khăn thì chị vợ lại đòi nợ, nhiều vấn đề vợ đều nghe lời chị vợ dù ông A1 không đồng ý. Từ tháng 8/2023 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn không thể giải quyết, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên ông A1 yêu cầu được ly hôn với bà Quế A1.
Về con chung: Ông A1 khai vợ chồng có 01 con chung tên Cao Hoàng An N – sinh ngày 07/9/2019. Nếu ly hôn, hai bên thỏa thuận sẽ giao con chung cho bà Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông A1 khai không có.
Về nợ chung: Ông A1 khai không có. Quá trình chung sống, có khoản nợ làm ăn là khoản nợ của cá nhân ông Hoàng A.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn – Bà Nguyễn Thị Quế A1 trình bày:
Về thời gian kết hôn đúng như ông A1 trình bày. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng có mâu thuẫn nhỏ trong đời sống hôn nhân, mâu thuẫn gần nhất là vào cuối tháng 7/2023, bà Quế A1 đi sinh nhật chị gái thì chồng không cho đi dẫn đến mâu thuẫn và ông A1 dọn về nhà bố mẹ chồng ở đến nay. Bà A1 cho rằng gia đình có những mâu thuẫn nhỏ mà bất cứ gia đình nào cũng có, có thể khắc phục được nên bà không đồng ý ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Cao Hoàng An N – sinh ngày 07/9/2019. Nếu ly hôn, hai bên thỏa thuận sẽ giao con chung cho bà Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Quế A1 khai không có.
Về nợ chung: Bà Quế A1 khai không có.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn - ông Cao Hoàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà Quế A1, khi thời điểm ông gặp khó khăn đã thấy rõ tình cảm của hai bên gia đình nên ông không còn tình cảm gì nữa, vợ chồng không thể nào hàn gắn được nữa. Con chung: Hai bên thỏa thuận giao con chung cho bà Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.
Bị đơn - bà Quế A1 trình bày: Bà giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn, bà vẫn mong muốn vợ chồng có cơ hội nói chuyện để hàn gắn. Con chung: Hai bên thỏa thuận giao con chung cho bà Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:
Ông Cao Hoàng A nộp đơn xin ly hôn bà Nguyễn Thị Quế A1, đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Địa chỉ của bị đơn tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 130 do Ủy ban nhân dân Phường A2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/8/2018 thì quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo ông A1 trình bày quá trình chung sống giữa ông A1 và bà Quế A1 có nhiều mâu thuẫn xảy ra, mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc, chi tiêu gia đình, hai bên không tìm được tiếng nói chung, có những lời nói và hành động không phù hợp dẫn đến kết quả không thể chung sống với nhau được nữa. Bà Quế A1 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ mà bất kỳ gia đình nào cũng có, có thể khắc phục được nên bà không đồng ý ly hôn. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng của ông A1 và bà Quế A1 không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết, mục đích hôn nhân không đạt được; tình cảm vợ chồng phải đến từ hai phía, từ thời điểm thụ lý đến nay bà A1 vẫn không đưa ra phương án hàn gắn phù hợp, ông A1 kiên quyết ly hôn cho thấy khả năng hàn gắn giữa vợ chồng ông không còn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A1.
[2.2]Về con chung: Ông A1 và bà Quế A1 khai có 01 con chung tên Cao Hoàng An N – sinh ngày 07/9/2019. Hai bên thống nhất nếu ly hôn sẽ giao con chung cho bà Nguyễn Thị Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng. Sự thỏa thuận này là phù hợp, do đó, Hội đồng xét xử đồng ý giao con chung cho bà Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Ông A1 và bà Quế A1 xác định vợ chồng tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông A1 và bà Quế A1 xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị này có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng do ông A1 chịu toàn bộ và được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Hoàng A:
- - Về hôn nhân: Ông Cao Hoàng A được ly hôn với bà Nguyễn Thị Quế A1.
- - Về con chung: Giao 01 con chung tên Cao Hoàng An N – sinh ngày 07/9/2019 cho bà Nguyễn Thị Quế A1 trực tiếp nuôi dưỡng. Mức cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Ông Cao Hoàng A được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà Nguyễn Thị Quế A1 và gia đình không được cản trở ông Cao Hoàng A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ chức theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Hai bên khai không có.
- - Về nợ chung: Hai bên khai không có.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm ông Cao Hoàng A phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ông A đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0023913 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Ông A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Quang Vũ |
Bản án số 293/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 293/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
