|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 293/2024/DSST
Ngày: 20/09/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Lâm Văn Vô
2- Bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Thu Thủy.
Ngày 20 tháng 09 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 5 tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 08 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 176/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973; chức danh: Tổng giám đốc.
Địa chỉ thường trú: Số G N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1977, chức vụ: Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S – gọi tắt: Công ty S1 (Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022).
- Ông Nguyễn Vũ Khánh C, sinh năm 1983, chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty S1 (Giấy ủy quyền số 775/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/09/2023).
- Ông Phạm Trường T1, sinh năm 1994; chức vụ: Nhân Viên (Giấy ủy quyền số 5520/2023/UQ-TGĐ ngày 19/12/2023).
- Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1993, chức vụ: Nhân viên (Giấy ủy quyền số 5125/2024/UQ -TGĐ ngày 08/07/2024).
Địa chỉ liên hệ: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Thành N (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Lê Đ, sinh năm 1953(vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ thường trú: Số D T, Tổ C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Tạm trú: Số D T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 21 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là S2) có đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Lê Đ (sau đây gọi tắt là ông Đ) thỏa thuận ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S2 (các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) số 472074 – 3035 ngày 25/08/2008, phê duyệt ngày 27/08/2008, hạn mức tín dụng là 14.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,15%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 42.939.100 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 37.760.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đ vẫn không có thiện chí tiếp tục trả nợ. Do ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 01/11/2012, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 14.085.552 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng trên số tiền nợ quá hạn nhân 150%.
Tính đến ngày 25/12/2023, ông Đ còn nợ S2 tổng số tiền là 75.743.776 đồng (bằng chữ: Bảy mươi lăm triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó bao gồm nợ gốc là 14.085.552 đồng, nợ lãi quá hạn là 61.658.224 đồng. S2 khởi kiện yêu cầu ông Đ phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/12/2023 là 75.743.776 đồng. Buộc ông Lê Đ phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 5 đã nhiều lần triệu tập ông Lê Đ đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có văn bản, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Tại phiên toà sơ thẩm,
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có bản tự khai cũng như tóm tắt sao kê, tạm tính đến ngày 20/09/2024 ông Đ cần phải thanh toán cho S2 tổng cộng số tiền nợ là 79.832.116 đồng (bằng chữ: Bảy mươi chín triệu tám trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười sáu đồng), trong đó nợ gốc là 14.085.552 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.746.564 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc với lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng). Ngoài ra ông Lê Đ còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lê Đ phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 20/09/2024 là 79.832.116 đồng (bằng chữ: Bảy mươi chín triệu tám trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười sáu đồng), trong đó nợ gốc là 14.085.552 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.746.564 đồng. Ngoài ra, ông Lê Đ còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Về án phí: Ông Đà chịu án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2 (các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) số 472074 – 3035 ngày 25/08/2008, phê duyệt ngày 27/08/2008 đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa tổ chức và cá nhân.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ tạm trú của bị đơn ông Lê Đ là số D T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, do bị đơn tự ghi trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 472074 – 3035 ngày 25/08/2008, phê duyệt ngày 27/08/2008 thể hiện bị đơn cư trú tại Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo xác minh của Công an P1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện tại địa chỉ số D T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh không có nhân khẩu tên Lê Đà đăng ký thường trú, tạm trú hoặc thực tế cư trú tại địa phương.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn: Đối với các trường hợp này là bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Toà án phải thụ lý giải quyết không được yêu cầu nguyên đơn bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của bị đơn...” vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, theo quy định pháp luật.
Toà án nhân dân Quận 5 đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhằm bảo vệ quyền lợi của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng ông Lê Đ vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012.
[1.3] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Đ thuộc trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Xét việc nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu buộc bị đơn là ông Lê Đ thanh toán số tiền nợ còn thiếu một lần cho nguyên đơn ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 20/09/2024 là 79.832.116 đồng (bằng chữ: Bảy mươi chín triệu tám trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười sáu đồng), trong đó nợ gốc là 14.085.552 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.746.564 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc với lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng).
Buộc ông Lê Đ còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng được thể hiện ở các tài liệu trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ông Đ đã vi phạm các thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng, như vậy ông Đ là bên vi phạm không trả lãi và nợ gốc đúng hạn quy định trong hợp đồng nên việc S2 yêu cầu ông Đ thanh toán số nợ gốc và lãi còn thiếu là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011 là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về trả lãi và thời hạn thanh toán:
Tại khoản 27 Điều 1 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tính dụng của nguyên đơn quy định: “Lãi suất: lãi là lãi suất cho vay mà S2 áp dụng đối với các khoản vay thông qua phát hành thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn, và lãi suất quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất do S2 công bố theo từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn”.
Nguyên đơn đã áp dụng lãi suất là 3,225% /tháng, lãi suất nợ quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn mà bên vay không trả đúng bằng 150% và S2 đã chuyển toàn bộ dư nợ của ông Đ còn thiếu là: 14.085.552 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất là 3,225% /tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150% là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng (do các bên thỏa thuận theo hợp đồng).
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất và phí của S2 tại các thời kỳ xác định bị đơn trong quá sử dụng thẻ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Vì vậy việc S2 yêu cầu ông Đ phải trả tiền nợ và lãi của thẻ tín dụng số 472074 – 3035 ngày 28/08/2008 có dư nợ gốc: 14.085.552 đồng và nợ lãi quá hạn: 65.746.564 đồng. Tổng cộng: 79.832.116 đồng (bằng chữ: Bảy mươi chín triệu tám trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười sáu đồng), tạm tính đến ngày 20/09/2024 là có cơ sở.
Do ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do vậy Ngân hàng yêu cầu ông Đ thanh toán số tiền nợ còn thiếu và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất chậm thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực là phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là 3.991.606 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Nghị quyết 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 của Hội đồng Thẩm Phán.
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S do ông Nguyễn Thành N là người đại diện theo ủy quyền và vắng mặt bị đơn là ông Lê Đà .
2. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
2.1. Buộc ông Lê Đ thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền còn nợ đối với hợp đồng và bản điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2 (các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) số 472074 – 3035 ngày 25/08/2008, phê duyệt ngày 27/08/2008 cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/09/2024 là 79.832.116 đồng (bằng chữ: Bảy mươi chín triệu tám trăm ba mươi hai nghìn một trăm mười sáu đồng), trong đó nợ gốc là 14.085.552 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.746.564 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc với lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng). Buộc ông Lê Đ còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Ông Lê Đà P chịu 3.991.606 đồng (bằng chữ: Ba triệu chín trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.893.594 đồng (bằng chữ: Một triệu tám trăm chín mươi ba nghìn năm trăm chín mươi bốn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23P/0036019 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trần Thục Oanh |
Bản án số 293/2024/DSST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 293/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Lê Đ
