|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 293/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và ông Tạ Văn Đài.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ - Công an huyện Trảng Bom), vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 315/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1984, tại tỉnh Đồng Nai. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 03/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Con ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1950 (đã chết) và bà Vũ Thị T, sinh năm 1958. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Bị cáo có vợ tên Dương Tiểu L, sinh năm 1983. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 11/9/2023 (có mặt).
* Bị hại: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1983.
Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Bùi Văn M (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/9/2023, Nguyễn Hồng Q điều khiển xe mô tô Wave biển số 60T9-0465 màu đỏ đi từ xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến huyện T mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường gần trạm cân, Quốc lộ 1A, huyện Trảng Bom thì phát hiện chị Ngô Thị L điều khiển xe đạp điện đi qua đường, có để 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu xanh phía sau túi quần nên Q nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của c L. Q điều khiển xe đi theo c L để tìm cơ hội cướp giật điện thoại. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp 1, xã Sông Trầu, Trảng Bom thì Q thấy vắng người nên đã điều khiển xe áp sát xe của c L và dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại c L. Sau đó, Q tăng ga tẩu thoát về hướng trung tâm thị trấn Trảng Bom và đi tìm tiệm điện thoại để bán điện thoại. Sau khi c L bị cướp giật điện thoại thì anh Bùi Văn M (chồng của c L) thông qua định vị điện thoại đã phát hiện vị trí của Q và chiếc điện thoại tại đường Hùng Vương, khu phố 3, thị trấn Trảng Bom nên đã cùng anh Nguyễn Duy T (Thành viên đội tự quản phòng chống tội phạm huyện Trảng Bom) bắt giữ Q giao cho Công an thị trấn huyện Trảng Bom và đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Trảng Bom giải quyết theo quy định. Quá trình làm việc Q khai nhận hành vi cướp giật của mình như trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại hiệu Oppo A5 màu xanh, 01 chiếc xe mô tô Wave biển số 60T9-0465 màu đỏ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom kết luận chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A5, Q cướp giật của c L trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 313/CT/VKS-TB ngày 29 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù .
- Về vật chứng:
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu xanh của c L bị cướp giật, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom trả lại cho c L.
+ Đối với xe mô tô Wave biển số 60T9-0465 màu đỏ Q sử dụng đi cướp giật là của chị Phan Thị Dịu cho bị cáo Q mượn để đi lại, chị Dịu không biết việc Q sử dụng xe trên để đi cướp giật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom trả lại cho chị Dịu.
- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng khoảng 17 giờ ngày 10/09/2023, tại đoạn đường thuộc ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hồng Q có hành vi sử dụng xe mô tô Wave biển số 60T9-0465 màu đỏ cướp giật chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu xanh của chị Ngô Thị L trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương và đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
[4] Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
[4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (được sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu xanh của c L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho c L nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
+ Đối với xe mô tô Wave biển số 60T9-0465 màu đỏ Q sử dụng đi cướp giật là của chị Phan Thị Dịu cho bị cáo Q mượn để làm phương tiện đi lại, chị Dịu không biết việc Q sử dụng xe trên để đi cướp giật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom trả lại cho chị Dịu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Q phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tâm |
Bản án số 293/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 293/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Q có hành vi cướp giật tài sản
