Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo

- Các hội thẩm nhân dân:

1- Ông Huỳnh Tiến Dũng;

2- Bà Nguyễn Thị Hương;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân Dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2925/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2292/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 3541/2025/QĐST ngày 14 tháng 4 năm và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3957/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: số A đường D, khu phố A, Phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bị đơn: Đoàn Ngọc T1 – sinh năm:1987(vắng mặt)

Địa chỉ: nhà không số kế số A đường D, khu phố A, Phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2024, bản tự khai và tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bà Nguyễn Thị T trình bày: giữa bà và bị đơn ông Đoàn Ngọc T1 sống chung vào năm 2011, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do đôi bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tìm được tiếng nói chung giữa hai vợ chồng, do đó ông bà đã sống ly thân nhau được 05 năm, trong thời gian này hai bên không qua lại với nhau cũng không hòa giải hàn gắn tình cảm, vì vậy bà T xin ly hôn, để ổn định cuộc sống và chăm sóc các con.

Về con chung: có 02 con chung Đoàn Nguyễn Nhật H1 sinh ngày 03/12/2012 và Đoàn Nguyễn Huy H sinh ngày 24/01/2020, nay ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông Đoàn Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi 02 con chung 5.000.000 đồng/tháng.

Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Ông Đoàn Ngọc T1 vắng mặt không có lời khai trong suốt quá trình tố tụng và cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt suốt quá trình tố tụng vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Ngọc T1 sống chung từ năm 2011, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND Phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 291 quyển số 2, ngày 14/11/2011. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Theo kết quả xác minh của Công an phường H, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đoàn Ngọc T1 có thực tế cư trú tại nhà không số kế số A đường D, khu phố A, Phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu ly hôn của bà T:

Hội đồng xét xử thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Ngọc T1 hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà không thể hòa giải, hàn gắn tình cảm, do đó ông bà đã sống ly thân nhau được 05 năm. Trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không thể hòa giải mâu thuẫn để về sống chung với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy suốt quá trình tố tụng Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông T1 nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy ông T1 không quan tâm đến việc hòa giải để đoàn tụ gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đoàn Ngọc T1.

[3] Về con chung: Có hai con chung là: Đoàn Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 03/12/2012, Đoàn Nguyễn Huy H, sinh ngày 24/01/2020. Ông Đoàn Ngọc T1 không có ý kiến trong quá trình tố tụng. Xét thấy hiện tại các con đang sống với bà T và bà T đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con, đồng thời xét nguyện vọng của con chung mong muốn sống cùng với bà Nguyễn Thị T nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao hai con cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để đảm bảo sự ổn định, tránh xáo trộn trong cuộc sống của hai trẻ.

Xét yêu cầu cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho 02 con chung của bà T. Hội đồng xét xử nhận thấy hai trẻ còn quá nhỏ và một mình bà T nuôi con sẽ có khó khăn nhất định, do đó cần buộc ông Đoàn Ngọc T1 phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho các con, để bù đắp một phần trách nhiệm của ông T1 khi không trực tiếp nuôi con. Mức yêu cầu cấp dưỡng của bà T1 là hợp lý so với thu nhập bình quân hiện nay. Vì vậy, buộc ông Đoàn Ngọc T1 phải cấp dưỡng nuôi hai con chung 5.000.000 đồng/tháng (2.500.000 đồng/tháng cho mỗi con) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Ông Đoàn Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đoàn Ngọc T1.

Về con chung: có hai con chung là Đoàn Nguyễn Nhật H1 sinh ngày 03/12/2012 và Đoàn Nguyễn Huy H sinh ngày 24/01/2020. Giao hai con chung cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Buộc ông Đoàn Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi hai con chung 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng (mỗi con chung 2.500.000 đồng/tháng) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị T, nếu ông Đoàn Ngọc T1 chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị T phải chịu. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 67989 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ.

Ông Đoàn Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

3/ Các đương sự vắng mặt tại phiên toà, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a (áp dụng Điều 7b nếu có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2925/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2925/2024/QĐXXST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger