TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG Bản án: 292/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 7 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hồng;
- Bà Lê Bích Loan.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 371/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 427/TB-TA ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1983; cư trú: Số nhà I, ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre;
- Bị đơn: Bà Ngô Thị Ánh L, sinh năm 1981; cư trú: Tổ D, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang;
(Ông N, bà L có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Phạm Văn N trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà Ngô Thị Ánh L do tự tìm hiểu, tổ chức lễ cưới vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cự cải, tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt, không ai quan tâm đến ai. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông và bà L sống ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai không liên lạc nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin được ly hôn với bà L.
Về con chung: có 02 hai con chung tên: 1/ Phạm Ngô Minh H, sinh ngày 19/9/2011; 2/ Phạm Ngô Ánh H1, sinh ngày 29/6/2017, cháu H và cháu H1 đang sống với bà L. Sau khi ly hôn, ông N đồng ý cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng/02 con chung cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi và sống tự lập.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Ngô Thị Ánh L trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 27/6/2024: Về thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn và đăng ký kết hôn đúng như lời ông N trình bày. Bà và ông N sống ly thân từ tháng 8/2022, cả hai không liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà đồng ý ly hôn với ông N.
Về con chung: Thống nhất với ông N có 02 con chung, họ tên, năm sinh đúng như lời ông N trình bày. Bà yêu cầu được trực tiếp cháu H và H1, thống nhất ông N cấp dưỡng 3.000.000 đồng/02 con chung cho đến H và H1 trưởng thành và sông tự lập.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống bà và ông N có tạo lập được một số tài sản chung, hiện bà và ông N đang thỏa thuận phương thức phân chia tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà xác định không có nợ chung.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Theo Biên bản xác minh ngày 05/6/2024, người thân bà L cung cấp: Ông N, bà L đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, về nguyên nhân mâu thuẫn bà không biết. Ông N và bà L có 02 con chung, đang sống với bà L. Về tài sản chung, nợ chung bà không biết.
Theo Biên bản lấy lời khai ngày 05/6/2024 các cháu Phạm Ngô Minh H và Phạm Ngô Ánh H1 đều có nguyện vọng được sống chung với bà L.
Tại phiên toà:
Ông Phạm Văn N trình bày: Ông giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, ông đồng ý giao hai con chung cho bà L được trực tiếp nuôi, ông xin rút lại yêu cầu được cấp dưỡng nuôi hai con chung 3.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, ông và bà L có tạo lập được khối tài sản chung gồm: Phần đất có diện tích 1.865m² tọa lạc tại: Ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre và phần đất có diện tích 86,3m², tọa lạc tại: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An, cả hai phần đất đã được cấp quyền sử dụng.
Ông và bà L đã thống nhất: Ông sẽ giao cho bà L được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt cả hai khối tài sản chung, bà L giao lại cho ông N 300.000.000 đồng khi làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Do ông và bà L đã tự thỏa thuận phân chia tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Ba Ngô Thị Ánh L trình bày: Bà đồng ý ly hôn với ông N, yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Thống nhất với lời trình bày của ông N là tự thỏa thuận phân chia tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của ông N, bà L có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và ba L đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện ly hôn của ông N, bà L theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông N và bà L thống nhất, bà L được trực tiếp nuôi hai cháu Phạm Ngô Minh H, Phạm Ngô Ánh H1 và cả hai con chung đều có nguyện vọng tiếp tục sống với bà L. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt. Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà L được trực tiếp nuôi dạy.
Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện và tại các lời khai ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi các cháu trưởng thành và sống tự lập. Tại phiên tòa hôm nay, bà L không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung, ông N thống nhất không cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn N yêu cầu được ly hôn với bà Ngô Thị Ánh L. Bà L cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án
thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng: Ông Phạm Văn N kiện xin ly hôn với bà Ngô Thị Ánh L. Xác định ông N là nguyên đơn, bà L là bị đơn. Sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa thì Luật sư Nguyễn Quốc K nộp thủ tục đề nghị được tham gia với tư cách là người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ngô Thị Ánh L. Tuy nhiên, trước khi mở phiên Tòa, Luật sư Nguyễn Quốc K nộp văn bản về việc chấm dứt vai trò Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Ngô Thị Ánh L. Tại phiên tòa, bà L xác định không yêu cầu Luật sư Nguyễn Quốc K bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà. Do đó, không đưa Luật sư Nguyễn Quốc K vào tham gia tố tụng.
[1.3] Về việc thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Tại đơn khởi kiện cũng như tại các lời khai, ông Phạm Văn N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng/02 con chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông N rút lại yêu cầu được cấp dưỡng, bà L đồng ý không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi hai con chung. Xét thấy việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, bà L cũng thống nhất nên chấp nhận theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà L do tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 157 ngày 19/10/2009 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của ông Phạm Văn N xin ly hôn với bà Ngô Thị Ánh L, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông N và bà L phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn và sống ly thân từ tháng 8/2022. Trong thời gian ly thân, cả hai bỏ mặc, không quan tâm đến nhau. Ông N và bà L đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, bà L đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông N. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện ly hôn giữa ông N và bà L theo quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:
Có 02 con chung: 1/ Phạm Ngô Minh H, sinh ngày 19/9/2011; 2/ Phạm Ngô Ánh H1, sinh ngày 29/6/2017. Ông N và bà L thống nhất: Bà L được trực tiếp nuôi cháu H và cháu H1, các cháu đều có nguyện vọng được sống chung với bà L. Do đó, để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên,
bà L không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
[4] Về tài sản chung, nợ chung:
Ông N và bà L thống nhất tự thỏa thuận về tài sản chung và xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu các đương sự không thỏa thuận được việc phân chia tài sản chung, có căn cứ xác định có nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí:
Ông N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Văn N và bà Ngô Thị Ánh L.
2. Về con chung: Bà Ngô Thị Ánh L được trực tiếp nuôi dạy 02 (hai) con chung tên: 1/ Phạm Ngô Minh H, sinh ngày 19/9/2011; 2/ Phạm Ngô Ánh H1, sinh ngày 29/6/2017.
Công nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông N cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà L. Ngược lại, bà L và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng/02 con chung.
3. Về án phí: Ông Phạm Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà ông N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009431 ngày 14/5/2024.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (ngày 31/7/2024) kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa an nhân dân tỉnh A xét xử phúc thẩm.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
Nơi nhận:
- - VKSND huyện (2);
- - TAND tỉnh An Giang (1);
- - Chi cục THADS huyện (1);
- - Các đương sự;
- - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
- - Lưu hồ sơ (1),
- - Lưu văn phòng (1).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sang |
Bản án số 292/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 292/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông N - bà L
