|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 292/2024/HS-ST
Ngày: 21/8/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quý
2. Bà Hoàng Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 313/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Xuân S, tên gọi khác: không; sinh 1986; giới tính: Nam; Nơi thường trú: B L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; bố Trịnh Xuân S1, mẹ Vũ Thị Y; vợ: Đặng Thị A, sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012. Nhân thân: Bản án số 267/2009/HSST ngày 15/10/2009, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Bản án số 55/2010/HSPT ngày 13/4/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp với 24 tháng tù của Bản án 267/2009/HSST của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2011.Tiền án: Bản án
81/2022/HSST ngày 16/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 50 tháng tính từ ngày 16/5/2022 về tội “Đánh bạc”. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024, đến ngày 17/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Đỗ Thị Việt H, sinh năm 1980, trú tại: số nhà I C, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975, trú tại: Số A Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mục đích vụ lợi, Trịnh Xuân S đã sử dụng tiền cá nhân cho một số người dân trên địa bàn thành phố T vay, với lãi suất 4.000đồng/triệu/ngày tương ứng lãi suất 146%/năm đã vượt quá 7,3 lần so với mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự (lãi suất cao nhất là 20%/năm).
Sinh thống nhất với khách vay, khi cho vay Sinh thu lãi và tiền gốc trong ngày đầu tiên, khách vay sẽ trả tiền gốc trong vòng 50 ngày. Trường hợp nếu khách vay muốn vay tiếp gói mới thì phải trả hết gốc và lãi gói vay cũ. Từ tháng 6/2023 đến tháng 02/2024 hành vi phạm tội của Trịnh Xuân S cụ thể như sau:
1. Trịnh Xuân S cho chị Đỗ Thị Việt H, sinh năm 1980, số nhà I C, phường L, thành phố T vay 03 gói:
Gói thứ nhất: Ngày 15/10/2023, S cho chị H vay số tiền 20.000.000đ trong vòng 50 ngày, lãi suất 4.000.000đ, S thu trước tiền lãi và 400.000đ tiền gốc của ngày đầu tiên nên chị H được nhận số tiền 15.600.000đ. Ngày 03/12/2023, chị H đã trả hết gốc và lãi của gói vay này. Số tiền lãi Sinh thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 547.945đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 3.452.055đ.
Gói thứ 2: Ngày 28/11/2023, S cho chị H vay 40.000.000đ trong vòng 50 ngày, lãi xuất 8.000.000đ, S thu trước tiền lãi và 800.000đ tiền gốc ngày đầu tiên nên chị H được nhận số tiền 31.200.000đ. Đến ngày 21/01/2024, chị H đã thanh toán hết số tiền gốc cho S. Số tiền lãi Sinh thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự: 1.095.890đ; số tiền đã thu lợi bất chính là: 6.904.110đ.
Gói thứ 3: Ngày 15/12/2023, S cho chị H vay 20.000.000đ/50 ngày. Sinh thu trước 4.000.000đ tiền lãi và 400.000đ tiền gốc của ngày đầu tiên nên chị H được nhận số tiền 15.600.000đ. Ngày 02/02/2024, chị H đã thanh toán hết số tiền gốc và lãi cho S. Số tiền lãi Sinh thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 547.945đ, số tiền lãi đã thu lợi bất chính là: 3.452.055đ.
Tổng số tiền gốc S sử dụng để cho chị H vay là 80.000.000đ; số tiền lãi Sinh đã thu được là 16.000.000đ; số tiền lãi thu theo quy định 20%/ 1 năm là: 2.191.780đ; số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 13.808.220đ (BL 70 ->75).
2. Trịnh Xuân S cho chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975, số nhà A Q, phường Đ, thành phố T, S cho chị Đ vay 7 gói:
- Gói thứ nhất: Ngày 20/06/2023, S cho chị Đ vay 25.000.000đ/50 ngày. Sinh thu trước 5.000.000đ tiền lãi và 500.000đ tiền gốc của ngày đầu tiên, chị Đ được nhận 19.500.000đ. Đến ngày 19/07/2023, chị Đ đã thanh toán hết 30 ngày vay, tương ứng 15.000.000đ tiền gốc và tất toán gói vay trước hạn nên chị Đ phải thanh toán thêm 10.000.000đ tiền gốc đối với 20 ngày vay còn lại. Số tiền lãi S đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
- Gói thứ 02: Ngày 19/07/2023, S cho chị Đ vay 25.000.000đ/50 ngày (gói vay được đảo từ gói vay thứ nhất). Do phải thanh toán 10.000.000đ tiền nợ từ gói vay thứ nhất và bị thu 5.000.000đ tiền lãi, 500.000đ tiền gốc của ngày vay đầu tiên nên chị Đ được nhận 9.500.000đ. Mỗi ngày chị Đ phải trả 500.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngày kể từ ngày 19/07/2023, tương ứng với số tiền là 25.000.000đ. Ngày 17/08/2023, chị Đ thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 15.000.000đ tiền gốc và tất toán gói vay trước hạn nên chị Đ phải thanh toán thêm 10.000.000đ tiền gốc đối với 20 ngày vay còn lại. Chị Đ đã thanh toán hết tiền gốc cho S, số tiền lãi S đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
- Gói thứ 3: Ngày 17/08/2023, Sinh đảo gói thứ 2 thành gói vay mới với số tiền 25.000.000đ. Do phải thanh toán 10.000.000đ tiền nợ từ gói vay thứ hai và bị thu trước 5.000.000đ tiền lãi, cùng 500.000đ tiền gốc của ngày vay đầu tiên nên chị Đ được nhận 9.500.000đ. Ngày 15/09/2023, chị Đ thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 15.000.000đ
tiền gốc và tất toán gói vay trước hạn nên chị Đ phải thanh toán thêm 10.000.000đ tiền gốc đối với 20 ngày vay còn lại. Số tiền lãi S đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
- Gói thứ 4: Ngày 15/09/2023, Sinh đảo gói thứ 3 thành gói vay mới với số tiền 25.000.000đ. Do phải thanh toán 10.000.000đ tiền nợ từ gói vay thứ nhất và bị thu trước 5.000.000đ tiền lãi, 500.000đ tiền gốc ngày vay đầu tiên nên chị Đ được nhận 9.500.000đ. Ngày 14/10/2023, chị Đ thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 15.000.000đ tiền gốc và tất toán gói vay trước hạn nên chị Đ phải thanh toán thêm 10.000.000đ tiền gốc đối với 20 ngày vay còn lại. Số tiền lãi S đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
- Gói thứ 5: Ngày 14/10/2023, Sinh đảo gói thứ 4 thành gói vay mới với số tiền 25.000.000đ. Do phải thanh toán 10.000.000đ tiền nợ từ gói vay thứ nhất và bị thu trước 5.000.000đ tiền lãi, 500.000đ tiền gốc ngày vay đầu tiên nên chị Đ được nhận 9.500.000đ. Ngày 12/11/2023, chị Đ thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 15.000.000đ tiền gốc và tất toán gói vay trước hạn nên chị Đ phải thanh toán thêm 10.000.000đ tiền gốc đối với 20 ngày vay còn lại. Số tiền lãi S đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
- Gói thứ 6: Ngày 12/11/2023, Sinh đảo gói thứ 5 thành gói vay mới với số tiền 25.000.000đ. Do phải thanh toán 10.000.000đ tiền nợ từ gói vay thứ nhất và bị thu trước 5.000.000đ tiền lãi, 500.000đ tiền gốc ngày vay đầu tiên nên chị Đ được nhận 9.500.000đ. Ngày 11/12/2023, chị Đ thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 15.000.000đ tiền gốc và tất toán gói vay trước hạn nên chị Đ phải thanh toán thêm 10.000.000đ tiền gốc đối với 20 ngày vay còn lại. Số tiền lãi S đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
- Gói thứ 7: Ngày 11/12/2023, Sinh đảo gói thứ 6 thành gói vay mới với số tiền 25.000.000đ. Do phải thanh toán 10.000.000đ tiền nợ từ gói vay thứ nhất và bị thu trước 5.000.000đ tiền lãi, 500.000đ tiền gốc ngày vay đầu tiên đối với gói vay mới nên chị Đ được nhận 9.500.000đ. Mỗi ngày chị Đ phải trả 500.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngày kể từ ngày 11/12/2023, tương ứng với số tiền là 25.000.000đ. Ngày 29/01/2024, chị Đ thanh toán hết 50 ngày vay tương ứng 25.000.000đ tiền gốc và kết thúc gói vay. Số tiền lãi đã thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 684.932đ; số tiền đã thu lợi bất chính: 4.315.068đ.
Đối với 07 gói vay của chị Đ, S dùng tiền gốc thu được của gói vay trước tiếp tục cho vay ở các gói vay sau nên tổng số tiền gốc S sử dụng để cho chị Đ vay trong 7 gói vay trên là 25.000.000đ. Tổng số tiền lãi S đã thu được của chị Đ trong 7 gói vay là 35.000.000đ, trong đó tiền lãi thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là: 4.794.524đ, tiền thu lợi bất chính đã thu được là 30.205.476đ.
Qua điều tra xác định Trịnh Xuân S sử dụng số tiền 105.000.000đ cho chị Đỗ Thị Việt H, Nguyễn Thị Đ vay với lãi suất 4000 đồng/01 triệu/01 ngày. Tính đến thời điểm bị ngăn chặn, S đã thu của những người vay tổng số tiền lãi là 51.000.000 đồng, trong đó, số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là 6.986.304đ, số tiền thu lợi bất chính là 44.013.696đ (BL: 76->78; 133->142).
Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định khi khách vay đến vay tiền S yêu cầu khách viết giấy vay nợ giao lại cho S và S sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max, màu trắng, gắn thẻ sim số 0983203883 của Sinh để liên lạc, yêu cầu người vay thanh toán tiền. Tuy nhiên, trước khi bị phát hiện hành vi phạm tội Sinh đã làm mất giấy vay tiền và điện thoại nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố T không thu giữ được.
Về phần dân sự: chị Đỗ Thị Việt H, Nguyễn Thị Đ có đơn không yêu cầu S trả lại số tiền thu lời bất chính.
- Tại phiên tòa bị cáo khai nhận; do hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bản thân lại không có việc làm ổn định, vì muốn được hưởng lợi bất chính, khoảng từ đầu tháng 06 năm 2023 đến tháng 02 năm 2024, Trịnh Xuân S đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối với một số người trên địa bàn thành phố T, dưới hình thức bốc bát họ “vay thăm” theo phương thức trả dần cả gốc và lãi của từng gói vay. Lãi suất cho vay được tính 4.000đ/triệu/ngày/1.000.000đ. Tiền lãi các bị cáo thu được từ những người vay là 51.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (tuy đã có đơn xin xét xử vắng mặt ) nhưng đã khai và xác nhận đầy đủ về số tiền đã vay, thời gian và mức lãi phải chi trả, hiện tại đã trả hết tiền nợ gốc và lãi cho Trịnh Xuân S và không yêu cầu S phải trả lại tiền thu lời bất chính.
Cáo trạng số: 242/CTr-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trịnh Xuân S về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như quyết định của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 35 khoản 5 Điều 65 của BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Xuân S từ 90 triệu đồng đến 100 triệu đồng, buộc bị cáo phải chấp hành 36 tháng tù của bản án cho hưởng án treo, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Truy thu số tiền bị cáo S cho vay 105.000.000 đồng, tiền lãi do phạm tội mà có 6.986.304 đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị H và chị H1 không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 44.013.696 đồng tiền lãi vượt quá quy định; bị cáo phải nộp án phí theo quy định Pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, nguyên nhân dẫn đến phạm tội và hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
[2] Các căn cứ để định tội đối với bị cáo: Về lời khai tại phiên tòa hôm nay với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 06 năm 2023 đến tháng 02/2024 Trịnh Xuân S đã có hành vi cho vay lãi nặng đối với 02 khách hàng trên địa bàn thành phố T, với tổng số tiền là 105.000.000 đồng. Trong đó lãi thu vượt của khách hàng theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự là 44.013.696 đồng. Đối chiếu với quy định tại Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N về “ Quy định phương pháp
tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng” thì mức lãi mà bị cáo cho vay là 146% tương ứng 7,3 lần so với mức lãi suất tối đa quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Như vậy, hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trịnh Xuân S là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3].Tính chất vụ án: Tệ nạn cho vay nặng lãi đang lan rộng trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Mặc dù đã được lực lượng Công an triệt phá nhiều tụ điểm và thông qua công tác xét xử đã tuyên truyền sâu rộng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các tội phạm tiếp theo, bị cáo biết nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung.
[4]. Về trách nhiệm hình sự của bị cáo (TNHS): Trịnh Xuân S có 01 tiền án tại bản án số 81/2022/HSST ngày 16/5/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 50 tháng tính từ ngày 16/5/2022 về tội “Đánh bạc”, bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, khi quyết định hình phạt cần áp dụng khoản 5 Điều 65 để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Pháp luật yên tâm cải tạo sớm trở thành con người tốt.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo, bị cáo phạm tội trong nhóm tội phạm về lĩnh vực Thuế, Tài chính, Ngân hàng, Chứng khoán, Bảo hiểm, để người phạm tội có khả năng thi hành bản án, xét thấy cần cần áp dụng Điều 35 của BLHS để áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo Trịnh Xuân S là phù hợp.
Bị cáo không có việc làm ổn định, số tiền phạm tội đã được tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước do vậy, sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 105.000.000 đồng bị cáo Trịnh Xuân S đã sử dụng cho 02 cá nhân vay được xác định là phương tiện phạm tội và khoản tiền 6.986.304 đồng lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm do vậy, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS để truy thu của bị cáo Trịnh Xuân S để tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Toàn bộ số tiền S cho vay Đỗ Thị Việt H và Nguyễn Thị Đ đã trả cho S.
Như vậy, tổng số tiền phải truy thu của bị cáo Trịnh Xuân S để tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước là 111.986.304đồng.
Đối với số tiền bị cáo đã thu lãi vượt quá quy định của Bộ luật dân sự được coi là giao dịch không có hiệu lực, xác định đây là tiền thu lợi bất chính sẽ không tịch thu của bị cáo để sung nộp ngân sách Nhà nước mà cần trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: cụ thể của chị Đỗ Thị Việt H 13.808.220 đồng; của chị Nguyễn Thị Đ 30.205.476đ. Ngày 13/8/2024 chị H và chị Đ có đơn trình bày không yêu cầu bị cáo S phải trả số tiền lãi vượt quá quy định của Bộ luật dân sự do vậy, chấp nhận sự tự nguyện của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Bị cáo không có việc làm ổn định, số tiền phạm tội đã được tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước do vậy, sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Xuân S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: 1.Bị cáo Trịnh Xuân S 100.000.000 ( Một trăm triệu đồng triệu đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Căn cứ khoản 5 Điều 65 của BLHS; Buộc bị cáo phải chấp hành 36 tháng tù theo bản án số 81/2022/HSST ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về biện pháp tư pháp: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo
Truy thu số tiền 111.986.304đồng ( Một trăm mười một triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm lẻ bốn đồng) là phương tiện dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có của bị cáo để tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Việt H và chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 44.013.696đồng (lãi vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự).
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoa |
Bản án số 292/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 292/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Xuân S
