| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH VĨNH LONG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 292/2024/DS-PT
Ngày: 13-12-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Lạc
Ông Nguyễn Văn Trường
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Tuyền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 13 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 316/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 69/2024/DS-ST, ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 356/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết P, sinh năm 1966.
Cư trú: Tổ D, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Bị đơn:
2.1/ Ông Võ Văn T, sinh năm 1982.
2.2/ Bà Đinh Thị H, sinh năm 1981.
Cùng cư trú: Tổ E, ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Người kháng cáo : Ông Võ Văn T và bà Đinh Thị H - Là bị đơn.
Người kháng nghị : Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 15/5/2024 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P trình bày:
Vào ngày 20/9/2023, bà Nguyễn Thị Tuyết P cùng ông Võ Văn T đến Phòng C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long để thoả thuận lập “Hợp đồng vay tiền” với nội dung: Bà P đồng ý cho ông Võ Văn T vay số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 20/9/2023 đến ngày 20/9/2024), lãi suất hai bên tự thoả thuận là 1,3%/tháng. Cùng ngày 20/9/2023 bà đã giao đủ số tiền 250.000.000 đồng cho ông Võ Văn T.
Để đảm bảo việc trả nợ thì ông T đồng ý thế chấp cho bà P bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 728701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01642, thửa số 26, tờ bản đồ số 7, diện tích 1601,6m², loại đất ở và trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp H, xã T, huyện B, Vĩnh Long do hộ bà Đinh Thị H, ông Võ Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
Từ ngày 20/9/2023 đến ngày 20/9/2024 vợ chồng ông T, bà H đã đóng lãi cho bà P được 15.000.000 đồng, từ tháng 02/2024 đến nay vợ chồng ông T, bà H đã ngưng đóng lãi. Bà P nhiều lần yêu cầu ông T, bà H trả tiền nhưng ông bà không thực hiện. Qua tìm hiểu được biết ông T, bà H đã làm thủ tục có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 26 và đã được cấp giấy mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 26.
Nay bà P yêu cầu giải quyết: Buộc ông ông Võ Văn T, bà Đinh Thị H cùng có trách nhiệm trả cho bà P số tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ với mức lãi suất là 1,3%, tạm tính từ tháng 02/2024 đến tháng 5/2024 là 250.000.000 đồng x 1,3%/tháng x 03 tháng = 9.750.000 đồng. Tổng cộng là 259.750.000 đồng.
Bị đơn ông Võ Văn T trình bày:
Vào ngày 20/9/2023, ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị Tuyết P đến Phòng C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long để thoả thuận lập “Hợp đồng vay tiền” với nội dung: Ông T đồng ý vay của bà P số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 20/9/2023 đến ngày 20/9/2024), lãi suất hai bên tự thoả thuận, ông T đã nhận đủ số tiền 250.000.000 đồng của bà P. Lãi suất 4.000.000 đồng/250.000.000 đồng. Anh T cho rằng ông đã đóng lãi từ năm 2021 cho đến tháng 4/2024 số tiền lãi là 475.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Khi đóng lãi thì bà P không làm biên nhận cho ông T. Ông T đưa tiền thì bà P nhận. Mục đích ông T vay tiền của bà P để làm ăn mua bán dẫn đến lỗ lã không có khả năng trả nợ nên lúng nợ.
Nay bà P yêu cầu ông T và bà H trả nợ cho bà P thì ông T yêu cầu như sau:
- Ông T đồng ý trả một mình ông số tiền 250.000.000 đồng cho bà P, còn bà H là vợ của ông không có trách nhiệm trả nợ vì bà H không có vay tiền. Ông T yêu cầu xem xét lại số tiền lãi mà ông đã đóng cho bà P số tiền là 475.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
- Ông T yêu cầu bà P trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 728701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01642, thửa số 26, tờ bản đồ số 7, diện tích 1601,6m², loại đất ở và trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long do hộ bà Đinh Thị H, ông Võ Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
- Ông T yêu cầu bà P trả hai căn cước công dân của ông Võ Văn T và Võ Văn Minh T2.
Bị đơn bà Đinh Thị H trình bày:
Bà H cho rằng bà không có vay tiền của bà P và bà không biết ông T vay tiền của bà P vào thời gian nào, số tiền bao nhiêu và sử dụng cho mục đích gì. Nhưng đến khi bà P đến đòi tiền thì bà H mới biết ông T vay tiền và có thế chấp giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P. Nay bà P yêu cầu bà H và ông T trả nợ cho bà P thì bà không đồng ý trả nợ. Ông T tự trả tiền cho bà P.
Bà H yêu cầu bà P trả giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
B H xin vắng mặt tất cả các phiên hoà giải và phiên toà xét xử sơ thẩm và phiên toà xét xử phúc thẩm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết P
Buộc ông Võ Văn T và bà Đinh Thị H liên đới cùng trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) và tổng số tiền lãi là 13.383.333 đồng. Tổng cộng số tiền 263.383.333 đồng (hai trăm sáu mươi ba triệu ba trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) là hoàn tất.
Bà P trả cho ông T và bà H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 728701 số vào cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01642, thửa số 26, tờ bản đồ số 7, diện tích 1601,6m², loại đất trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp H, xã T, huyện B, Vĩnh Long do hộ bà Đinh Thị H, ông Võ Văn T3 đứng tên quyền sử dụng đất và hai căn cước công dân của ông T và Võ Văn Minh T2. Khi ông Võ Văn T và bà Đinh Thị H trả xong nợ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án, về án phí dân sự sơ thẩm và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/9/2024 ông Võ Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long hủy Bản án số 69/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 30/9/2024 bà Đinh Thị H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long hủy Bản án số 69/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết P trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa số 26, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.601,6m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long do bà đứng tên và giấy căn cước công dân của con bà là Võ Văn Minh T2.
Ngày 01/10/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân có Quyết định kháng nghị số 490/QĐ-VKS-DS kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long theo hướng hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Võ Văn T và bà Đinh Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 490/QĐ-VKS-DS ngày 01/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân.
Bà Nguyễn Thị Tuyết P không đồng ý với kháng cáo của ông Võ Văn T, bà Đinh Thị H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân. Bà P đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Võ Văn T, bà Đinh Thị H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân là có căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn T, bà Đinh Thị H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân. Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Bình Tân xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật. Do hủy án sơ thẩm, nên ông T và bà H không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án ngày 10/9/2024. Ngày 23/9/2024 ông Võ Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Bà Đinh Thị H vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, ngày 20/9/2024 bà Đinh Thị H nhận được bản án sơ thẩm. Ngày 30/9/2024 bà Đinh Thị H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân không tham gia phiên tòa. Ngày 20/92024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân nhận được bản án sơ thẩm. Ngày 01/10/2024 Viện trưởng Vieejkn kiểm sát nhân dân huyeejnh B1 có Quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của ông T, bà H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân còn trong hạn luật định, nên kháng cáo và kháng nghị hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Võ Văn T, bà Đinh Thị H và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Vào ngày 20/9/2023 bà Nguyễn Thị Tuyết P có cho ông Võ Văn T vay số tiền là 250.000.000đ. Khi vay tiền ông T và bà P có làm hợp đồng vay tiền và được công chứng chứng thực. Cùng ngày 20/9/2023 ông T có làm biên nhận vay tiền có thế chấp tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 26, diện tích 1.601,2m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm nhằm đảm bảo số tiền vay 250.000.000đ. Sự việc này ông Võ Văn T thừa nhận. Hiện nay bà P1 đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T thế chấp. Sau khi vay tiền ông T không thực hiện nghĩa vụ trả lãi cho bà P, nên bà P khởi kiện yêu cầu ông T cùng vợ là bà Đinh Thị H có trách nhiệm trả bà P 250.000.000đ và tiền lãi 1,3%/tháng. Quá trình giải quyết vụ án ông T thừa nhận có vay của bà P số tiền 250.000.000đ. Bà Đinh Thị H trình bày không biết việc ông T vay tiền của bà P. Tại cấp sơ thẩm ông T trình bày là vay tiền của bà P để làm ăn nhưng làm ăn thua lỗ không có tiền trả. Tại phiên tòa phúc thẩm ông T trình bày ông vay tiền của bà P để cờ bạc chứ không có làm ăn gì. Bà H trình bày bà hoàn toàn không biết việc ông T vay tiền của bà P. Bà P trình bày việc vay tiền bà chỉ giao tiền cho ông T và chỉ có ông T ký tên vay tiền. Mỗi lần cho vay bà có kêu ông T kêu vợ cùng ký tên vay tiền nhưng ông T nói là vợ có con nhỏ không đi được. Ngoài ra ông T và bà P còn thừa nhận hợp đồng vay tiền ngày 20/9/2023 là tổng hợp của 02 hợp đồng vay tiền ngày 10/5/2022 và hợp đồng vay tiền ngày 05/8/2022 Nhưng biên nhận vay tiền ngày 05/8/2022 là ông T vay của ông Nguyễn Văn M. Án sơ thẩm chưa làm rõ mục đích vay tiền của ông T để làm gì? Có phục vụ cho cuộc sống gia đình hay không mà xử buộc ông T và bà H có nghĩa vụ liên đới trả bà P số tiền vay và tiền lãi là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Ngoài ra khi giải quyết vụ án cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn Văn M vào tham gia tố tụng là thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[2.2] Việc vay tiền của bà H ông T có thế chấp cho bà H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 26, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.601,2m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã T, huyện B do ông T và bà H đứng tên. Quá trình giải quyết vụ án bà P có cung cấp tài liệu thể hiện ông T, bà H đã làm tờ có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Vấn đề này cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ có hay không việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 26. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T, bà H thừa nhận thửa đất số 26 đã được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 26 cần phải có ý kiến của cơ quan chuyên môn xác định tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào có giá trị pháp lý để có căn cứ xử lý việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các đương sự trong vụ án. Án sơ thẩm buộc bà P trả ông T và bà H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không tuyên bố vô hiệu hợp đồng vay tiền có thế chấp tài sản ngày 20/9/2023 là có vi phạm về thủ tục tố tụng.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm bà P trình bày sở dĩ bà đang giữ 02 thẻ căn cước công dân của ông T và của anh Võ Văn M1 T2 là con trai của ông T và bà H là do ông T vay của bà 10.000.000₫ nên ông T đưa cho bà giữ 02 thẻ căn cước công dân. Ông T cũng thừa nhận có vay của bà P 10.000.000đ, nên ông có đưa cho bà P 02 thẻ căn cước công dân của ông và của con ông là anh T2. Ông T trình bày ông đã trả xong số tiền 10.000.000₫ cho bà P, nhưng bà P xác định ông T chưa trả bà P số tiền 10.000.000đ. Án sơ thẩm giải quyết buộc bà P trả 02 thẻ căn cước công dân cho ông T và anh và bà H, nhưng không giải quyết số tiền 10.000.000đ, không đưa anh Võ Văn M1 T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và giải quyết chưa dứt điểm nội dung vụ án.
[3] Từ nhận định phân tích trên, xét thấy án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết nội dung vụ án chưa triệt để làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Những vi phạm của án sơ thẩm cấp phúc thẩm không thể khắc phục, bổ sung được, nên cần phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại sơ thẩm theo thủ tục chung.
[4] Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm, nên ông Võ Văn T và bà Đinh Thị H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông T và bà H tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1/ Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đã xử giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P với bị đơn ông Võ Văn T, bà Đinh Thị H.
2/ Giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3/ Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả ông Võ Văn T và bà Đinh Thị H mỗi người 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số Nº 0000016 ngày 23/9/2024 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số Nº 0000019 ngày 30/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Lộc |
Bản án số 292/2024/DS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 292/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà P tranh chấp HĐ vay tài sản với ông T
