|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 292/2024/DS-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan và bà Nguyễn Thị Bạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 853/2023/TLST-DS ngày 29/12/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXX-DSST ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A)Viết tắt(ngân hàng).
Địa chỉ trụ sở chính: Số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L – Chức vụ: Phó giám đốc Phòng quản lý nợ. Địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, D Cách mạng T, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Nguyễn Thành N – Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ.
Địa chỉ: Số A Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1.
Nơi cư trú hiện nay: Thôn A, xã C, thành B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt,)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn C, bà Nguyễn Thị T1.
Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Q.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
- Ông Trần Đức H.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Đề nghị xét xử mặt)
- Ông Phạm Nhàn .
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do có nhu cầu vay vốn nên Ngân hàng TMCP Á đã cấp tín dụng cho ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 căn cứ theo: Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số DAL.CN.119.200618 ngày 21/6/2018; Hợp đồng cấp tín dụng số DAL.CN.1934.170921 ngày 17/9/2021 và phụ lục hợp đồng DAL.CN.1934.170921/PLHĐ-01 ngày 17/9/2021. Hạn mức tín dụng 2.200.000.000 đồng; Mục đích cho vay: Sản xuất kinh doanh; Bổ sung vốn lưu động kinh doanh mua bán thiết bị, vật tư thể thao, thi công công trình thể thao. Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng; Phương thức giải ngân: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ; Thời hạn cho vay: 09 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu. Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; Lãi suất quá hạn; 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm. Để thực hiện Thỏa thuận tín dụng và Hợp đồng tín dụng nêu trên, A đã giải ngân cho ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 bằng các Khế ước nhận nợ như sau: Khế ước số DAL.CN.1934.170921, số tham chiếu: 36121975 ngày 06/5/2022, số tiền 900.000.000 đồng. Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số [...] của ông Phạm Văn T tại ngân hàng A; Thời hạn vay từ ngày 07/5/2022 đến ngày 06/02/2023; Lãi suất trong hạn: 8,50 %/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần ; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
Khế ước số DAL.CN.1934170921, số tham chiếu: 364069619, ngày 10/6/2022; số tiền 1.000.000.000 đồng; Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số [...] của ông Phạm Văn T tại ngân hàng A; Thời hạn vay từ ngày 11/6/2022 đến ngày 10/3/2023; Lãi suất trong hạn: 8,50 %/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
Ngày 15/10/2020 Ngân hàng A cấp tín dụng cho ông Phạm Văn T căn cứ theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/10/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng A. Các văn bản khác của ông Phạm Văn T ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng, loại thẻ Express credit; hạn mức thẻ 100.000.000 đồng. Lãi suất trong hạn, quá hạn và phí theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng A, là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng A. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì ngày 07/02/2023 và ngày 11/3/2023, ngân hàng A chuyển toàn bộ dư nợ của trên sang nợ quá hạn. Ngày 04/10/2023, ngân hàng A ra Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ tín dụng nêu trên.
Khoản nợ nêu trên được thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phạm Văn T tại: Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 5, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 103653 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 142201/QSDĐ/CH, trích lục bản đồ ngày 12/6/1997, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 08/6/2018 và Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 142204/QSDĐ/CH, trích lục bản đồ ngày 12/6/1997, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 08/6/2018. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DAL.BĐCN.44.200618 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2018, số công chứng 01992; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2018; Cam kết thế chấp tài sản ngày 21/6/2018. Tại thời điểm cho vay vốn, lúc Ngân hàng xuống xem xét thẩm định diện tích đất và các tài sản trên đất là của ông Phạm Văn T đã được tặng cho, ông T là người quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất và các tài sản trên đất. Từ khi vay đến nay ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 chưa trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi suất của hai khoản vay nên ngân hàng khởi kiện đề nghị ông T, bà L1 phải trả số tiền gốc là 2.010.960.357 đồng và lãi suất phát sinh.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của ngân hàng A trình bày:
Đến tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 đã trả được tổng số tiền là 1.800.000.000đồng. Tính đến ngày 27/9/2024, ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 còn nợ ngân hàng A các khoản sau: Nợ gốc 210.960.351 đồng và 670.899.317 đồng tiền lãi suất. Ngân hàng A buộc ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 trả ngay cho ngân hàng A tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 27/9/2024 là 719.430.501 đồng, trong đó nợ gốc 382.832.828 đồng, lãi suất phát sinh là 336.597.673 đồng. Buộc ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, kể từ ngày 28/9/2024 đến ngày trả hết nợ.
Thời hạn trả theo trình tự thi hành án Dân sự. Nếu ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm đã thế chấp cho ngân hàng thì ngân hàng được đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 cùng trình bày:
Chúng tôi thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng hàng A, chúng tôi có nhu cầu vay vốn để làm ăn kinh doanh nên chúng tôi có ký với Ngân hàng TMCP Á thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số DAL.CN.119.200618 ngày 21/6/2018; Hợp đồng tín dụng số DAL.CN.1934.170921 ngày 17/9/2021 và phụ lục hợp đồng DAL.CN.1934.170921/PLHĐ-01 ngày 17/9/2021. Hạn mức cấp tín dụng là 2.200.000.000 đồng; Mục đích vay: Sản xuất kinh doanh; Bổ sung vốn lưu động kinh doanh mua bán thiết bị, vật tư thể thao, thi công công trình thể thao. Chúng tôi đã vay của ngân hàng số tiền 1.900.000.000đồng theo khế ước số DAL.CN.1934.170921, ngày 06/5/2022, số tiền 900.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 07/5/2022 đến ngày 06/02/2023 và Khế ước số DAL.CN.1934170921 ngày 10/6/2022, số tiền vay 1.000.000.000 đồng; Thời hạn vay từ ngày 11/6/2022 đến ngày 10/3/2023; Lãi suất trong hạn: 8,50 %/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
Vào ngày 15/10/2020 chúng tôi có vay số tiền 100.000.000 đồng với hình thức thẻ Express credit. Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng A thì ngân hàng A cấp cho chúng tôi (Phạm Văn T) thẻ Express credit; hạn mức thẻ 100.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân trong gia đình. Tổng số tiền chúng tôi vay ngân hàng A là 2.000.000.000đồng.
Chúng tôi có thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 5, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 103653 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996 cho hộ ông Phạm Văn C biến động sang tên cho tôi (Phạm Văn T) ngày 08/6/2018 và Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996 cho hộ ông Phạm Văn C biến động sang tên cho tôi (Phạm Văn T) ngày 08/6/2018.
Về nguồn gốc đất: Do bố mẹ chúng tôi là ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị T1 không kinh doanh nên không đứng ra vay tiền được nên có sang tên cho em trai tôi là Phạm N1 để em trai tôi vay giúp tôi lấy vốn kinh doanh. Đến ngày 08/6/2018, vì có lý riêng nên em trai tôi mới rút sổ đỏ lấy về, rồi sau đó làm thủ tục tặng cho sang tên tôi (Phạm Văn T) để tiếp tục vay vốn ngân hàng. Mục đích việc bố mẹ tặng cho chúng tôi tài sản này là để vay vốn kinh doanh. Trên các thửa đất có đất ở và đất nông nghiệp, từ trước đến nay bố mẹ chúng tôi có bán cho người khác thì chúng tôi không được biết. Các lần cho vay Ngân hàng A đều có xuống thẩm định đất, có thấy bố mẹ tôi đang ở, bố mẹ tôi cũng đồng ý cho mượn nên Ngân hàng không có ý kiến gì.
Từ khi vay đến tại phiên tòa hôm nay, chúng tôi đã trả cho Ngân hàng A số tiền 1.800.000.000đồng, bao gồm số tiền vay của thẻ tín tụng và của hợp đồng tín dụng. Hiện nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu chúng tôi phải thanh toán tổng số tiền là là 719.430.501 đồng, trong đó nợ gốc 382.832.828 đồng, lãi suất phát sinh là 336.597.673 đồng và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 28/9/2024 đến ngày trả hết nợ thì chúng tôi đồng ý. Nếu không thanh toán được cho Ngân hàng A số tiền trên thì chúng tôi đồng ý xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1 Trong quá trình tham gia tố tụng bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Ông Phạm Văn T và ông Phạm N1 đều là con ruột của vợ chồng tôi, vào ngày 24/9/2015 vợ chồng tôi có tặng cho thửa đất 15, tờ số 13, diện tích 4700m² tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 và thửa đất 251, tờ số 5, diện tích 4890m² đất cà phê tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K153653 cho ông Phạm N1, vợ chồng tôi vẫn còn sinh sống và canh tác trên các thửa đất nói trên, lý do là vì chúng tôi chỉ làm thủ tục sang tên chỉ để vay vốn ngân hàng. Đến ngày 08/6/2018 ông Phạm N1 tiếp tục tặng cho thửa đất nêu trên cho ông Phạm Văn T thì vợ chồng tôi có biết, còn việc ông T thế chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ngân hàng A để vay số tiền thì vợ chồng tôi không biết. Hiện nay ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông T, bà L1 phải trả số tiền gốc và lãi suất phát sinh. Nếu ông T, bà L1 không trả được nợ thì đề nghị phát mãi các tài sản đã thế chấp cho ngân hàng để thu hồi nợ thì chúng tôi không đồng ý. Đối với các hợp đồng tặng cho và hợp đồng thế chấp thì tôi với chồng tôi bàn bạc và trả lời với Toà án trước ngày 30/7/2024.
3.2 Trong quá trình tham gia tố tụng ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Tôi là em trai của bà Nguyễn Thị T1, về nguồn gốc phần đất có căn nhà khoảng 60m² trên thửa đất 15, tờ số 13, diện tích 4700m² tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 thì tôi có nhận chuyển nhượng của ông C, bà T1 vào năm 2003 có giấy tờ viết tay và tôi đã làm nhà vào năm 2006, hiện nay diện tích chưa được tách thửa. Vào ngày 24/9/2015 ông C, bà Trọng T2 cho thửa đất trên cho ông Phạm N1, ông Phạm N1 tiếp tục tặng cho thửa đất nêu trên cho ông Phạm Văn T và ông T thế chấp thửa đất trên cho ngân hàng A để vay vốn thì tôi không biết. Hiện nay ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông T, bà L1 phải trả số tiền gốc và lãi suất phát sinh. Nếu ông T, bà L1 không trả được nợ thì đề nghị phát mãi các tài sản đã thế chấp cho ngân hàng để thu hồi nợ trong đó có cả phần diện tích đất của tôi thì tôi hoàn toàn không đồng ý. Còn việc tôi có làm đơn khởi kiện độc lập về tài sản và các hợp đồng thì tôi về bàn bạc với gia đình trơng thời gian trước ngày 30/7/2024 thì tôi sẽ có ý kiến về vấn đề này.
3.3 Trong quá trình tham gia tố tụng ông Trần Đức H trình bày:
Tôi có quan hệ là cháu ông C, bà T1 (gọi bằng dượng). Nguồn gốc diện tích đất khoảng 125m² hiện nay tôi đang ở có căn nhà xây cấp 4, trên thửa đất 15, tờ số 13, diện tích 4700m² tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 là tôi nhận chuyển nhượng của ông C, bà T1 vào năm 2006 và làm nhà trong năm 2006, có giấy tờ viết tay, việc chuyển nhượng đã xong nhưng chưa được tách thửa. Vào ngày 24/9/2015 ông C, bà Trọng T2 cho thửa đất trên cho ông Phạm N1 vào ngày 08/6/2018, ông Phạm N1 tiếp tục tặng cho thửa đất nêu trên cho ông Phạm Văn T và ngày 20/6/2018 và ông T thế chấp thửa đất trên cho ngân hàng A để vay vốn thì tôi không biết. Hiện nay ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông T, bà L1 phải trả số tiền gốc và lãi suất phát sinh. Nếu ông T, bà L1 không trả được nợ thì đề nghị phát mãi các tài sản đã thế chấp cho ngân hàng để thu hồi nợ trong đó có cả phần diện tích của tôi thì tôi hoàn toàn không đồng ý. Đề nghị ông T, bà L1 trả nợ ngay cho Ngân hàng, để rút sổ đỏ gốc về, sau đó chúng tôi sẽ tiến hành tách thửa các thửa đất. Còn việc tôi có làm đơn khởi kiện độc lập hay không thì tôi về bàn bạc với gia đình trong thời gian trước ngày 30/7/2024 thì tôi sẽ có ý kiến về vấn đề này.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A.
Buộc ông Phạm Văn T bà Lê Thị Bích L1 phải trả cho ngân hàng A tổng số tiền là 719.430.501 đồng, trong đó nợ gốc 382.832.828 đồng, lãi suất phát sinh là 336.597.673 đồng và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 28/9/2024 đến ngày trả hết nợ. Nếu bà L1, ông T không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DAL.BĐCN.44.200618 ngày 20/6/2018 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2018, số công chứng 01992; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2018, giữa ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 và ngân hàng A thì ngân hàng có quyền phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án. Về án phí và chi phí tố tung; Đương sự chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1].Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị T1, ông Phạm Văn C, ông Phạm N1 và ông Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do; Ông Trần Văn H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án:
Ngân hàng TMCP Á cho ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 vay số tiền 2.000.000.000đồng, căn cứ hợp đồng cấp tín dụng số DAL.CN.1934.170921 ngày 17/9/2021 và phụ lục hợp đồng DAL.CN.1934.170921/PLHĐ-01, ngày 17/9/2021; Khế ước số DAL.CN.1934.170921, ngày 06/5/2022, số tiền 900.000.000 đồng và khế ước số DAL.CN.1934170921, ngày 10/6/2022, với số tiền 1.000.000.000 đồng và thẻ tín dụng, loại thẻ Express credit; hạn mức thẻ 100.000.000 đồng. Mục đích cho vay: Sản xuất kinh doanh; Bổ sung vốn lưu động kinh doanh mua bán thiết bị, vật tư thể thao, thi công công trình thể thao và tiêu dùng cá nhân.
Tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DAL.BĐCN.44.200618 ngày 20/6/2018, số công chứng 01992; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2018 và Cam kết thế chấp tài sản ngày 21/6/2018.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng A nên ngân hàng A khởi kiện ông T và bà L1 tại Tòa án.
[3.1]. Xét yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của ngân hàng TMCP Á (A) xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện: Ngân hàng TMCP Á đã cho ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 vay số tiền 1.900.000.000đồng theo Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số DAL.CN.119.200618, ngày 21/6/2018; Hợp đồng cấp tín dụng số DAL.CN.1934.170921 ngày 17/9/2021; Phụ lục hợp đồng số DAL.CN.1934.170921/PLHĐ-01, ngày 17/9/2021; Khế ước nhận nợ Số DAL.CN.1934.170921 ngày 06/5/2022 và Khế ước nhận nợ số DAL.CN.1934.170921 ngày 10/6/2022 ; Mục đích cho vay: Sản xuất kinh doanh; Bổ sung vốn lưu động kinh doanh mua bán thiết bị, vật tư thể thao, thi công công trình thể thao. Thời hạn vay đối với khế ước nhận nợ Số DAL.CN.1934.170921 ngày 06/5/2022 là 09 tháng kể từ ngày 07/5/2022 và đối với Khế ước nhận nợ số DAL.CN.1934.170921 ngày 10/6/2022, thời hạn vay 09 tháng kể từ ngày 11/6/2022. Lãi suất trong hạn là: 8,50%/ năm; Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; Lãi phạt chậm trả lãi 10%/ năm. Hiện nay đã đến thời hạn trả nợ ông T và bà L1 vẫn chưa trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi suất nào nên ngày 07/02/2023 và ngày 11/3/2023, ngân hàng A chuyển toàn bộ dư nợ của trên sang nợ quá hạn.
Ngày 15/10/2020 Ngân hàng A đã cấp cho ông Phạm Văn T thẻ Express credit, với hạn mức 100.000.000đồng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch rút tiền với tổng số tiền vốn gốc là: 100.000.000 đồng mục đích chi tiêu trong gia đình. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Phạm Văn T vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng A nên ngân hàng chấm dứt sử dụng thẻ và chuyển nợ quá hạn, từ ngày 04/10/2023. Như vậy ông T bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng nên ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông T, bà L1 phải trả số tiền gốc và lãi suất phát sinh là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Đến tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 đã trả được cho ngân hàng tổng số tiền 1.800.000.000đồng còn nợ ngân hàng A số tiền là 719.430.501 đồng, trong đó nợ gốc 382.832.828 đồng, lãi suất phát sinh tính đến ngày 27/9/2024 là 336.597.673 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay ông T và bà L1 cũng thừa nhận đã trả được cho ngân hàng tổng số tiền 1.800.000.000đồng và còn nợ ngân hàng A số tiền là 719.430.501 đồng, trong đó nợ gốc 382.832.828 đồng, lãi suất phát sinh tính đến ngày 27/9/2024 là 336.597.673 đồng và chấp nhận trả số tiền trên cho ngân hàng theo trình tự thi hành án dân sự. Vì vậy, ngân hàng A khởi kiện yêu cầu buộc ông T và bà L1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ trên là phù hợp nên cần chấp nhận.
[3.2]. Về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DAL.BĐCN.44.200618 ngày 20/6/2018 giữa ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 và ngân hàng A đối với: Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 5, diện tích 4890 m² đất trồng cà phê, thời hạn sử dụng đất đến năm 2043, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103653 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996 cho hộ ông Phạm Văn C, biến động sang tên cho ông Phạm Văn T 08/6/2018 và Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13, diện tích 4.700 m² trong đó 400m² đất ở và 4.300m² đất trồng cà phê ổn định, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996, cho hộ ông Phạm Văn C biến động sang tên cho ông Phạm Văn T 08/6/2018.
Xét thấy, trong quá trình Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện:
Đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13: Ông Nguyễn Văn Q (là em trai của bà Nguyễn Thị T1) đang quản lý, sử dụng diện tích đất 60m² và trên đất có nhà cấp 4 ; Ông Trần Đức H đang quản lý, sử dụng diện tích 125m² trên đất có 01 căn nhà cấp 4; Phần còn lại là do ông C, bà T1 (bố mẹ ông T) đang ở trên căn nhà xây cấp 4, diện tích 100m² và 01 quán diện tích 100m². Đối với thửa đất số 251, tờ bản đồ số 5: Hiện nay bà T1, ông C đang canh tác trồng cà phê trên đất.
Quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án đã có công văn cho ông Phạm Văn C; lập biên bản làm việc và biên bản hòa giải ngày 08/7/2024 với bà Nguyễn Thị T1; ông Nguyễn Văn Q; ông Trần Đức H, về việc khởi kiện độc lập đối với các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông C, bà T1 với ông N1 và giữa ông N1 với ông T; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông T, bà L1 với ngân hàng A nhưng các ông bà trên đều có ý kiến về bạn bạc với gia đình nếu là có đơn khởi kiện độc lập hay không sẽ trả lời cho Tòa án trước ngày 30/7/2024. Đến nay, Tòa án cũng không nhận được yêu cầu gì của ông H, ông Q và vợ chồng bà T1 nên không có căn cứ xem xét ý kiến của các ông bà. Căn cứ Điều 5 Bộ luật tố tụng Dân sự về quyền định đoạt và tự định đoạt của đương sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên đã được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp trên là hợp pháp.
Khi nào ông T bà L1 thanh toán hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại: Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 5, diện tích 4890 m² đất trồng cà phê, thời hạn sử dụng đất đến năm 2043, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103653 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996 cho hộ ông Phạm Văn C biến động sang tên cho ông Phạm Văn T 08/6/2018; Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13, diện tích 4.700 m² trong đó 400m² đất ở và 4.300m² đất trồng cà phê ổn định, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 103677 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996, cho hộ ông Phạm Văn C biến động sang tên cho ông Phạm Văn T 08/6/2018 cho ông Phạm Văn T.
Nếu bà L1, ông T không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DAL.BĐCN.44.200618 ngày 20/6/2018 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2018, số công chứng 01992, quyển số 01/TPCC-SCC/HĐGD, giữa ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 và ngân hàng A thì ngân hàng A có quyền đề nghị Chi Cục thi hành án Dân sự thành phố Buôn Ma Thuột phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A được chấp nhận nên bị đơn ông T, bà L1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông T, bà L1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng A chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ ông T, bà L1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 267, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 và Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của ngân hàng TMCP Á.
- Buộc ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Á tổng số tiền nợ là: 719.430.501 đồng. Trong đó nợ gốc 382.832.828 đồng, lãi suất phát sinh tính đến ngày 27/9/2024 là 336.597.673 đồng.
Kể từ ngày 28/9/2024 bà Lê Thị Bích L1 và ông Phạm Văn T phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng số DAL.CN.1934.170921, ngày 17/9/2021; Phụ lục hợp đồng số DAL.CN.1934.170921/PLHĐ-01,ngày 17/9/2021; Khế ước nhận nợ Số DAL.CN.1934.170921, ngày 06/5/2022 và Khế ước nhận nợ số DAL.CN.1934.170921, ngày 10/6/2022 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ.
Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án Dân sự.
- Về tài sản thế chấp: Khi nào ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 thanh toán hết khoản nợ nêu trên cho ngân hàng TMCP Á thì ngân hàng TMCP Á có trách nhiệm trả lại: Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 5, diện tích 4890 m² đất trồng cà phê, thời hạn sử dụng đất đến năm 2043, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 103653 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996 cho hộ ông Phạm Văn C biến động sang tên cho ông Phạm Văn T ngày 08/6/2018; Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13, diện tích 4.700 m² trong đó 400m² đất ở và 4.300m² đất trồng cà phê ổn định, địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K103677 do UBND huyện K cấp ngày 10/11/1996, cho hộ ông Phạm Văn C, biến động sang tên cho ông Phạm Văn T ngày 08/6/2018 cho ông Phạm Văn T.
Nếu ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DAL.BĐCN.44.200618 ngày 20/6/2018, số công chứng 01992, quyển số 01/TPCC-SCC/HĐGD, giữa ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 và ngân hàng TMCP Á thì ngân hàng TMCP Á có quyền đề nghị Chi Cục thi hành án Dân sự thành phố Buôn Ma Thuột phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1 phải chịu: 32.777.220đồng.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm ứng án phí là 38.876.203đồng do bà Nguyễn Thị Cẩm V đã nộp theo biên lai số 0004954 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Phạm Văn T, bà Lê Thị Bích L1 phải chịu 4.000.000đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 4.000.000đồng chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ ông Phạm Văn T và bà Lê Thị Bích L1.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ
Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 292/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 292/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của ngân hàng TMCP Á Châu.
