|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 292/HNGĐ-ST Ngày : 15-5-2024 Về việc “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Lương Thảo Vy.
- - Bà Nguyễn Thị Thu Sương.
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hợp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên toà số 225/2024QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Diễm T, sinh năm 1973; địa chỉ: Số B Lô B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1973; địa chỉ: Số B Lô B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 02 năm 2024, bản tự khai, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Diễm T trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và ông Trần Văn H chung sống với nhau vào năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống cảm thấy không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Vì vậy, tôi yêu cầu được ly hôn với ông H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Trần Thị Bích N, sinh năm 1993 và Trần Văn K, sinh năm 1997. Hiện hai con chung đã thành niên và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, bị đơn ông Trần Văn H:
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông H hợp lệ nhưng ông H vắng mặt tại các phiên hòa giải không lý do. Qua xác minh thì hiện nay ông H vẫn còn ở địa phương và tình trạng mâu thuẫn giữa ông và bà T đúng như bà T đã trình bày nên Tòa án lấy đó làm cơ sở để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa :
- Nguyên đơn bà Phan Diễm T: Giữ yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông H. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Trần Văn H vắng mặt tại phiên toà nên không trình bày ý kiến .
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.
- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.
- Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà T và ông H chung sống với nhau từ năm 1992, không có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên không công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà T yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà T và ông H cùng thống nhất có 02 người con chung Trần Thị Bích N, sinh năm 1993 và Trần Văn K, sinh năm 1997. Hiện hai con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T và ông H không tranh chấp, không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét
Từ cơ sở trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 5 Điều 3, khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H.
Về con chung: Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Nguyên đơn có yêu cầu ly hôn, bị đơn ông Trần Văn H có địa chỉ tại Số B Lô B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Phan Diễm T và ông Trần Văn H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 1992 đến nay, nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại biên bản xác minh ngày 21 tháng 3 năm 2024 và công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã B về tình trạng hôn nhân của bà T và ông H1 thì Ủy ban nhân dân xã B xác định không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn của bà T và ông H. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là không tuân đúng theo quy định của Pháp luật, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình sống chung vợ chồng có nhiều quan điểm bất đồng, ông H có mối quan hệ khác bên ngoài, dẫn tới đời sống vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Thời gian chung sống Bà T và ông H có 02 người con chung tên Trần Thị Bích N, sinh năm 1993 và Trần Văn K, sinh năm 1997. Hiện hai con chung đã thành niên và có khả năng lao động, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[3] Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các khoản 5 Điều 3, khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phan Diễm T và ông Trần Văn H.
- Về con chung: Bà Phan Diễm T và ông Trần Văn H xác định có 02 (Hai) con chung tên Trần Thị Bích N, sinh năm 1993 và Trần Văn K, sinh năm 1997. Do đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Phan Diễm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005347 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phan Diễm T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Anh |
Bản án số 292/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 292/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
