|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 292/2024/HS-ST Ngày: 13/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Có
Bà Võ Thị Bời
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Đại diện Viện sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài P – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 353/2024/TLST-HS ngày 05/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024, đối với bị cáo:
Trần Tứ N, sinh năm 1977 tại Phú Yên; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: T (Chết); Mẹ: Đàm Thị N1 (Đã chết); Vợ: Phạm Thị Hồng H (đã ly hôn); Có 02 con (lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự số 30/2019/HSST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 29/4/2020. Đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/8/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Ông Bùi Trọng K, sinh năm 1982
Nơi cư trú: C H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 25/6/2024, Trần Tứ N đi xe khách từ nhà tại Khu phố E phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vào thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực Đèo R, thành phố N, N xuống xe rồi tiếp tục đi xe thồ lên khu vực Lầu G thuộc phường V, thành phố N để tìm mua ma túy. N gặp một thanh niên tên T không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy Heroin thì nam thanh niên đó đồng ý bán cho N. N đưa cho T 4.000.000 đồng, T cầm tiền rồi đi đâu một lúc quay lại đưa cho N 70 tép “Heroin” và tặng cho N 33 tép ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, N cất ma túy vào túi quần rồi đi bộ ra khu vực đường 2 tháng 4 để bắt xe về lại Phú Yên.
Khoảng 11 giờ 35 cùng ngày, N đi đến đoạn giao nhau giữa đường 2 tháng 4 và đường M thuộc phường V, thành phố N thì bị lực lượng tuần tra Đ – Bộ đội Biên Phòng tỉnh K phối hợp với Công an phường V, thành phố N phát hiện Trần Tứ N có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra giấy tờ tùy thân. Trần Tứ N tự tay lấy trong túi quần bên phải của mình ra một bịch nilong màu trắng bên trong chứa 70 đoạn ống hút nhựa màu trắng, có kích thước mỗi đoạn dài khoảng 02cm được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng nén và 33 bịch nilong màu trắng hàn kín hai đầu, kích thước mỗi bịch dài 1,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác (Được niêm phong ký hiệu A).
Tại Bản kết luật giám định số 371/2024/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
- Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2578g, loại ma túy Methamphetamin
- Chất bộ nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định có khối lượng 6,6977g, loại ma túy Heroin
Quá trình điều tra truy tố, bị cáo Trần Tứ N đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được quay về với gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng với bị cáo Trần Tứ N và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Về xử lý vậy chứng: Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen sử dụng sim số 0985192637 và 0812826639 vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tịch thu để tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định theo quy định của pháp luật.
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng, theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng truy tố:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tứ N thừa nhận hành vi như Cáo trạng truy tố, phù hợp lời khai của những người làm chứng, với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cũng như qua phần tranh tụng, tranh luận công khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 11 giờ 35 phút, ngày 25/6/2024, Trần Tứ N đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy gồm: 0,2578g loại ma túy Methamphetamin và 6,6977g loại ma túy Heroin để sử dụng cho bản thân. Khối lượng ma túy mà bị cáo Trần Tứ N tàng trữ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Tứ N là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Tuy biết đây là chất bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo không những làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra một số loại tội phạm khác, mà còn tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nay lại tiếp tục phạm tội tàng trữ 02 chất ma túy với khối tổng lượng 6,9555gam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy nên cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, bị cáo hiện không có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật để bị cáo an tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.
- Đối với đối tượng nam thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, làm rõ; khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu, tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu A có khối lượng 5,2336 gam (đã được niêm phong trong phong bì có chữ ký của giám định viên, trợ lý và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh K); Trả lại cho bị cáo một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen sử dụng sim số 0985192637 và 0812826639 vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Tứ N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 106, Điều 136, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Tứ N 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2024.
- Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu, tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định chất bột nén trong mẫu A: có khối lượng 5,2336 (có chữ ký niêm phong của Thượng tá Nguyễn Khắc H1, Nguyễn Hoàng Quang A, Chu Văn H2 và đóng dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh K).
- Trả lại cho bị cáo 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen sử dụng sim số 0985192637 và 0812826639 đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
- Về án phí: Bị cáo Trần Tứ N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cát Hoàng Trân |
Bản án số 292/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 292/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tứ Nhơn
