Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 292/2024/DS-PT

Ngày: 11-12 - 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bình Đảo;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhiên;

Ông Trần Bá Kha;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Vũ Tường Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 11 tháng 6 năm 2024 và ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 104/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Danh T, sinh năm 1961; bà Trần Thị L (tên gọi khác L1), sinh năm 1960; Đều có mặt.

    Cùng địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1964; Có mặt.

    Địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Danh D, sinh năm 1978 (con ông T, bà L); Có mặt.
    2. Bà Thị Bích T1, sinh năm 1978 (con ông T, bà L); Có mặt.
    3. Chị Lê Thị Hồng P, sinh năm 1980 (con bà H); Có đơn xin vắng mặt.
    4. Chị Lê Thị Hồng T2, sinh năm 1983 (con bà H); Có đơn xin vắng mặt.
    5. Anh Lê Thanh Đ, sinh năm 1988 (con bà H); Có đơn xin vắng mặt.
    6. Cùng địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

    7. Chị Lê Thị Hồng T3, sinh năm 1994 (con bà H); Có đơn xin vắng mặt.
    8. Địa chỉ: Ấp C, xã N, M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của chị P, chị T2, chị T3 và anh Đ: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1964;

    Địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, khởi biện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Danh T và bà Trần Thị L trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của mẹ vợ là bà Lê Thị K cho ông bà năm 1978, khoảng 05 công (tầm nhỏ), trong đó diện tích đất thổ vườn 2.390m² thửa đất 524, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/6/1998 đứng tên bà Trần Thị L1 (Lán). Ông bà sử dụng ổn định đến khoảng năm 2003 thì phát sinh tranh chấp, đến năm 2008 thì được chính quyền xã B giải quyết phần ranh đất giữa hai bên theo biên bản lập ngày 18/3/2008, hai bên đồng ý ký tên, gia đình bà H và ông bà thống nhất cắm ranh trước mặt chính quyền 03 trụ đá, phía trước mặt tiền 01 trụ và phía sau 02 trụ. Ông bà tiếp tục sử dụng đất ổn định khoảng 10 năm thì tiếp tục phát sinh tranh chấp, hiện trụ đá phía sau còn giữ nguyên.

Nguyên đơn ông T và bà L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh H giao trả phần đất lấn chiếm theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ diện tích là 101,7m², thuộc thửa đất số 524, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do mẹ chồng của bà là bà Nguyễn Thị Ả cho bà H và ông Lê Văn S (đã chết) vào năm 1986, diện tích đất ngang 19,5m, dài 39,5m, chưa tính phần dưới mé sông khoảng 11m. Phần đất giáp ranh giữa gia đình bà và ông T có phần chữ L chạy ngang khoảng 01 tầm vợ chồng bà sử dụng ổn định, liên tục cho đến nay nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà được biết phần đất này đã có tên trên sổ mục kê do chồng bà là ông Lê Văn S đứng tên khoảng 500m². Việc mẹ chồng bà cho đất vợ chồng bà thì không có văn bản hay giấy tờ gì do ông S là con trai út có công phụng dưỡng cha mẹ. Sau này, bà có đến Ủy ban nhân dân xã B và Ủy ban nhân dân huyện G hỏi về thủ tục để xin cấp giấy nhưng do nghèo quá, bận đi làm ăn nên cho đến nay bà vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với việc ông T trình bày bà có mặt chứng kiến cắm ranh hai theo biên bản hòa giải ngày 13/8/2003 thì bà thừa nhận việc vợ chồng bà có ký tên nhưng bà không rõ số đo các cạnh cụ thể là bao nhiêu. Hiện phần đất gia đình bà đang sử dụng là 741 m².

Nay ông T và bà L khởi kiện yêu cầu bà giao trả đất lấn chiếm và yêu cầu tháo dỡ công trình thì bà không đồng ý, bà không có lấn đất như ông T trình bày và khi xây dựng hàng rào thì bà xây dựng trong phạm vi diện tích đất của gia đình.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Bích T1 và anh Danh D trình bày:

Vào năm 2008, anh chị được cha mẹ là ông Danh T và bà Trần Thị L cho phần đất thổ cư giáp ranh với bà H, hiện nay quyền sử dụng đất vẫn do bà L đứng tên, chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Anh chị đã cất 01 căn nhà kiên cố trên đất vào năm 2018, đối với phần ranh đất giáp bà H anh chị vẫn giữ nguyên hiện trạng, nay anh D và chị T1 thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông T và bà L.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Hồng P1, chị Lê Thị Hồng P, chị Lê Thị Hồng T3 và anh Lê Thanh Đ trình bày: Thống nhất theo ý kiến của bà H trình bày.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Danh T - bà Trần Thị L đối với bà Nguyễn Thị Thanh H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình trên phần đất tranh chấp.

Công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 101,7 m² là thuộc quyền sử dụng của ông Danh T và bà Trần Thị L. Phần đất có vị trí và số đo cụ thể như sau: Cạnh 2-8 giáp với lộ nông thôn có số đo 0,5 m; cạnh 5-10 giáp với phần đất của ông Danh Q có số đo 2,86 m; cạnh giáp thửa 524 lần lượt có số đo cạnh 2-3 là 5,68 m, cạnh 3-4 là 22,18 m, cạnh 4-5 có số đo 17,02 m; cạnh giáp thửa 524 lần lượt có số đo cạnh 8-9 là 25,43 m, cạnh 9-10 là 15,80 m; cạnh 3-2 có số đo 5,68 m.

Theo trích đo địa chính số TĐ 142-2023 (523,524-09) ngày 06/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G.

Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền đính chính diện tích các thửa đất theo nội dung quyết định của bản án khi đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H phải có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ vật, kiến trúc (gồm 01 trụ cột bằng bê tông, 01 cây gáo, 01 cây cù đèn và 01 cây gòn) nằm trên phần đất tranh chấp.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định.

* Ngày 09/12/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H kháng cáo với nội dung: Yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số: 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Nguyên đơn ông Danh T, bà Trần Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ; kết quả tranh luận tại phiên tòa của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử theo quy định.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo tờ TĐ 142-2023 (523,524-09) ngày 06/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì diện tích đất tranh chấp có diện tích 101,7m² là của ông Danh T và bà L được mẹ vợ là bà Lê Thị K cho ông bà khoảng năm 1978, diện tích đất thổ vườn 2.390 m² thửa đất 524, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Ông bà sử dụng ổn định đến năm 1998, thì đi kê khai đăng ký và được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/6/1998 do bà Trần Thị L1 (L) đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận K453430.

Đối với thửa đất 523 là do cha mẹ để lại cho ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị Thanh H vào năm 1986, năm 1993 - 1995 khi lập sơ đồ địa chính quy chủ cho ông Lê Văn S đứng tên trong sổ mục kê diện tích 500m² do ông S và bà H chưa đi đăng ký kê khai và đang tranh chấp từ năm 2003 cho đến nay nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:

Diện tích đất ông T và bà L sử dụng hiện nay là 1.939,6m² + 215,9m² (bờ kênh) + 97,2 m² (lộ) = 2.252,7m² (ông T – bà L sử dụng thiếu là 137,3 m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận 2.390 m²).

Diện tích đất gia đình bà H sử dụng hiện nay là 444,1m² + 71,8m² (lộ) +166m² (bờ kênh) = 681,9m² (bà H sử dụng dư 181,9m² so với diện tích trong sổ mục kê 500m²).

Tại Công số 48/UBND-TNMT ngày 18/01/2022 của Ủy ban nhân dân huyện G xác định: Thời điểm này chỉ trích lục trên bản đồ địa chính, căn cứ sổ mục kê, đơn kê khai đăng ký và xác nhận của chính quyền địa phương đất sử dụng ổn định và không có tranh chấp, Ủy ban nhân dân huyện G xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Đồng thời việc cấp đất luôn tới mé sông (bao gồm cả phần lộ nông thôn và mé kênh như hiện nay) nên ý kiến của bà H cho rằng gia đình ông T giả mạo chữ ký giáp ranh để đi kê khai quyền sử dụng đất nên bà không đồng ý đối với diện tích ông T và bà L sử dụng, thấy rằng căn cứ vào kết quả thu thập chứng cứ và xác minh đều thể hiện khi chính quyền cấp đất của bà L thì không đo đạc thực tế mà căn cứ vào sơ đồ địa chính và kê khai, xác nhận đất không tranh chấp nên được công nhận quyền sử dụng đất. Mặc khác khi bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (năm 1998) thì ông Lê Văn S vẫn còn sống, ông S - bà H cũng không có ý kiến phản đối nên yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp của ông T và bà L là có căn cứ.

Căn cứ biên bản ngày 18/3/2008 của UBND xã B và kết quả xác minh của người hiểu biết sự việc thì khi ông S còn sống, ranh giới thỏa thuận hai bên đều thống nhất xác định phía ngoài giáp lộ nông thôn hiện nay số đo đất của ông S là 19m, phía sau hậu là 16,1m để làm ranh thẳng ra sau, không có tranh chấp phần chữ L như hiện nay, hai bên thống nhất hoán đổi luôn phần đất tranh chấp phía sau hậu chứng tỏ các bên đã thống nhất tự nguyện thỏa thuận và thừa nhận diện tích thực tế sử dụng từ năm 2008. Việc Bà H thừa nhận bà và ông S có ký tên vào biên bản nhưng cho rằng không biết nội dung là chưa phù hợp.

Theo kết quả xác minh đối với nhân chứng là bà Lê Thị H1 (là chị em ruột với ông Lê Văn S), bà H1 xác định có sự việc cha mẹ cho đất ông S ngang khoảng 6-7 tầm, chiều dài tới ấp C, bà H1 cũng không biết được ranh giới sử dụng đất giữa gia đình bà H với ông T. Xét thấy do người làm chứng có quan hệ bà con họ hàng với gia đình bà H nên lời trình bày của bà H1 là chưa khách quan. Theo kết quả xác minh các nhân chứng Danh Sáu là hộ giáp ranh cũng không xác định được ranh giới sử dụng giữa ông T và bà H. Ông Võ Thành Đ1 là người trực tiếp cùng đoàn đo đạc đi đo đất cũng xác định tại thời điểm đo đạc đất thì đo luôn phần sử dụng đến mé sông B, phần đất ranh giới giữa ông S và ông T cũng không tranh chấp và có mặt của các bên đương sự, diện tích gia đình ông S sử dụng hơn 500 m². Ông Lê Thành Đ2 nguyên là cán bộ địa chính xã B cũng xác định quá trình giải quyết tại địa phương khi ông S còn sống thì hai bên thống nhất phần đất phía trước của ông S là 19m, phía sau 16,1m đúng như biên bản đã lập ngày 18/3/2008, quá trình giải quyết vụ án ông T - bà L cũng có ý kiến việc giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất như thỏa thuận nhưng bà H không đồng ý. Việc bà H cho rằng diện tích đất sử dụng của gia đình bà ngang 19,5m và dài là 39,5m nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Tuy nhiên, theo tờ TĐ 142-2023 (523,524-09) ngày 06/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G buộc bà H tháo dỡ vật kiến trúc giao trả lại cho ông T và bà L thì diện tích đất 101,7m² như bản án sơ thẩm đã tuyên sẽ ảnh hưởng đến khu mộ của gia đình bà H. Do đó trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, sau khi kiểm tra hiện trạng diện tích đất tranh chấp có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 216-2024 (523, 524-09) ngày 23/10/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì diện tích đất tranh chấp là 91,6m² để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Từ những căn cứ nhận định trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp yêu cầu khởi kiện của ông Danh T và bà Trần Thị L đối với bà Nguyễn Thị Thanh H; buộc bà H tháo dỡ toàn bộ tài sản, vật kiến trúc, công trình xấy dựng và giao trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 216-2024 (523, 524-09) ngày 23/10/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì diện tích đất tranh chấp là 91,6m² cho ông Danh T và bà Trần Thị L là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[2] Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H có nộp đơn phản tố.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 03/8/2023, bà H có yêu cầu phản tố, cấp sơ thẩm đã thông báo cho bà H nộp tạm ứng án phí theo quy định, nhưng bà H không thực hiện nộp tạm ứng án phí theo quy định mà không có lý do chính đáng.

Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 195 và Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xem xét yêu cầu phản tố của bà H là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Từ những căn cứ nhận định trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 2.117.000 đồng theo hóa đơn GTGT số 0004771 ngày 28/4/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Kiên Giang. Ông T, bà L đã nộp tạm ứng nên bà H phải trả lại cho ông T, bà L số tiền là 2.117.000 đồng.

[4] Về án phí:

[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Hoàn trả cho nguyên đơn ông Danh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 3579 ngày 04/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
  • - Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.

[4.2] Án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn trả cho bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005603 ngày 04/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 289/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng các Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn của ông Danh T và bà Trần Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H.
    1. Công nhận diện tích đất tranh chấp có diện tích 91,6 m² tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn ông Danh T và bà Trần Thị L.
    2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H phải có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ tài sản, kiến trúc và công trình xây dựng nằm trên diện tích đất tranh chấp có diện tích 91,6 m² tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
    3. Theo trích đo địa chính số TĐ 216-2024 (523, 524-09) ngày 23/10/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Kiên Giang diện tích đất có có vị trí và số đo cụ thể như sau:

      • + Cạnh 2 – 8 = 25,43m; 8 – 9 = 15,80m: giáp đất bà H đang quản lý;
      • + Cạnh 9 – 5 = 2,86m: giáp đất Danh Quản;
      • + Cạnh 5 – 4 = 17,02m; 4 – 3 = 22,18m; 3 – 2 = 5,98m: giáp phần đất ông T, bà L.
    4. Nguyên đơn ông Danh T và bà Trần Thị L có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Thi hành án và cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho các đương sự phù hợp với diện tích đất thực tế theo nội dung quyết định của bản án khi đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật về đất đai
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

    Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 2.117.000 đồng theo hóa đơn GTGT số 0004771 ngày 28/4/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Kiên Giang. Ông T, bà L đã nộp tạm ứng nên bà H phải trả lại cho ông T, bà L số tiền là 2.117.000 đồng.

  3. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Hoàn trả cho nguyên đơn ông Danh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 3579 ngày 04/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
      • - Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm:
    3. Hoàn trả cho bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005603 ngày 04/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Giồng Riềng;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bình Đảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 292/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 292/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T tranh chấp QSDĐ với bà H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger