TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 292/2025/HS-PT Ngày 20 - 6 - 2025 | ---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung;
Bà Hà Thị Thanh Nữ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Ngô Tiến T (và đồng phạm); do có kháng cáo của bị cáo Ngô Tiến T (và đồng phạm) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
- NGÔ TIẾN THÀNH - sinh năm 2002; tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình T1 – sinh năm 1973 và bà Phạm Thị H – sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến ngày 17/01/2023; hiện nay, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 204/2024/LCĐKNCT-TA, ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- NGÔ ĐỨC TRUNG - sinh năm: 2001; tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình T1 – sinh năm 1973 và bà Phạm Thị H – sinh năm 1980; Vợ: Ka' P – sinh năm 2002 và có 01 người con 01 tuổi; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 203/2024/LCĐKNCT-TA, ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- NGÔ NGỌC SƠN - sinh ngày 13/5/2006; tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình T1 – sinh năm 1973 và bà Phạm Thị H – sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 205/2024/LCĐKNCT-TA, ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- NGUYỄN CÔNG N (Tên khác: Miu) - sinh ngày 01/6/2006; tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công Đ – sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị T2 – sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 208/2024/LCĐKNCT-TA, ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
* Người bào chữa cho các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S: Ông Võ Thanh T4 là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số 1 đường C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo T, T3, S có mặt; bị cáo N vắng mặt).
Trong vụ án còn có các bị cáo khác, nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Buổi tối ngày 22/8/2022, Ngô Tiến T chở bạn gái là Nguyễn Thị Tuyết N1 - sinh ngày 01/9/2005 về nhà N1 tại ấp P, xã P. Khi gần tới nhà N1 thì có Phạm Hoàng Quốc V, Phạm Trần Quốc D - sinh ngày 11/12/2004, Hoàng Quốc T5 (Gô) - sinh ngày 25/01/2006 và Nguyễn Minh H1 - sinh ngày 07/7/2007 dùng xe mô tô truy đuổi T để gây thương tích. Nguyên nhân xuất phát từ việc giữa H1 và T có mâu thuẫn từ trước nên H1 rủ rê V, D, T5 cùng tham gia thì cả bọn đồng ý.
Khi đi, T5 điều khiển xe mô tô chở V ngồi phía sau cầm mũ bảo hiểm, H1 điều khiển xe mô tô chở D ngồi sau cầm cây tuýp sắt dài khoảng 1,2m. Khi phát hiện thấy T đang điều khiển xe mô tô thì nhóm H1, V, D, T5 tiến hành truy đuổi. Trong quá trình truy đuổi, V dùng mũ bảo hiểm ném về phía T, D dùng cây sắt đánh T. Tuy nhiên, T tránh né được và quay đầu xe chạy vào nhà bạn gái là Nguyễn Thị Tuyết N1. Khi nhóm H1, V, D, T5 thấy T chạy vào nhà N1 thì dừng lại không đuổi đánh nữa. Sau khi đuổi đánh T, nhóm V, D, T5, H1 chở H1 đến nhà Ngô Mỹ D1 tại ấp P, xã P, T5 quay lại nhà T5, còn V, D thì đi về nhà.
Về phía Ngô Tiến T sau khi bị nhóm V, D, T5, H1 truy đuổi thì T gọi điện thoại cho anh ruột là Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S - sinh ngày 13/5/2006 nói đang bị đánh và nói T3, S lên đưa về. T3, S nhận thức được việc khi đến nhà N1 để gặp T thì sẽ có đánh nhau nên khi đi S mang theo một con dao phát, một cây tuýp sắt, một đoạn cây tre. Khi T, T3, S gặp nhau thì S đưa cho T dao phát, T3 sử dụng tuýp sắt, S dùng đoạn cây tre. Nhóm T, T3, S biết nhóm V, D, T5 đang ở nhà T5 tại ấp P, xã P thì liền kéo nhau đến nhà T5 với mục đích đánh nhau.
Khi đến nhà T5, nhóm T3, T, S cầm dao, tuýp sắt và cây tre khiêu khích gọi T5 ra đánh nhau nhưng không được, sau khi chửi bới khoảng 15 phút thì T3, T, S lên xe mô tô đi về.
Khi nhóm của T3, T, S về thì T5 điện thoại cho Nguyễn Công N - sinh ngày 01/6/2006 nói “đang ở đâu có mấy thằng bên hồ qua nhà tao chém tao nè, tụi nó đang chạy xuống á”. Lúc này, Nguyễn Công N đang đi cùng Trương Thanh Q - sinh ngày 07/02/2006 và gặp thêm Thạch Ngọc Đ1 (B) - sinh ngày 20/6/2007. N kể cho Đ1 nghe về việc T5 gọi điện đánh nhau với nhóm ở hồ T. Sau đó, Nguyễn Công N, Trương Thanh Q, Thạch Ngọc Đ1 cùng chạy đến nhà D1 nói về việc nhóm trong hồ T (tức nói nhóm Ngô Tiến T) đang khiêu khích đánh nhau tại nhà T5. Lúc này, tại nhà D1 có Nguyễn Minh H1, Nguyễn Công N, Trương Thanh Q, Ngô Duy L - sinh ngày 05/3/2007, Ngô Duy K - sinh ngày 19/5/2007, Thạch Ngọc Đ1.
Để chuẩn bị đi đánh nhau, Nguyễn Công N chạy ra sau nhà D1 lấy 01 cây rựa đưa cho Nguyễn Minh H1, Trương Thanh Q cầm 01 cây tuýp sắt. Sau đó, cả nhóm gồm H1, N (M), Q, L (B), K (H), Đ1 (B) đi trên 02 xe mô tô đến nhà T5 (G) để đuổi đánh nhóm Ngô Tiến T. Khi đi qua lò than thì thấy Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S và Ngô Tiến T.
Lúc này, Nguyễn Minh H1 biết T3, S, T là nhóm có mâu thuẫn với nhóm mình nên nhảy xuống xe để đánh nhau. Thạch Ngọc Đ1 tiếp tục chở Ngô Duy K chạy ra ngoài. Khi H1 vừa nhảy xuống xe thì Ngô Đức T3 xông vào đánh H1 bị H1 dùng dao chém một cái trúng vào tay trái, sau đó T3 cầm cây tuýp sắt đánh H1. Bị đánh nên Nguyễn Minh H1 bỏ chạy thì bị Ngô Ngọc S đuổi theo đánh ở bụi cỏ. Lúc này Nguyễn Công N chở theo Trương Thanh Q đến thì bị Ngô Tiến T dùng cây đánh vào lưng, tay Q. Thấy vậy, Nguyễn Công N, Ngô Duy L dùng hung khí đánh lại thì nhóm T lấy xe bỏ chạy ra ngoài.
Về phía Thạch Ngọc Đ1 và Ngô Duy K sau khi chạy xe đến nhà Nguyễn Công N thì gặp Nguyễn Công Q1 và Nguyễn Công Q2 (là 02 anh trai ruột của N). Đ1 kể lại sự việc Nguyễn Công N đang đánh nhau với nhóm Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S và Ngô Tiến T tại khu vực lò than. Nghe nói vậy, Q1 và Q2 mỗi người cầm trên tay một cây sắt 03 vuông dài khoảng 1m3 đi bộ về hướng lò than.
Khi thấy Ngô Tiến T điều khiển xe mô tô đến thì Q1 chặn xe T lại rồi sử dụng hung khí là cây sắt vuông đánh, T bỏ chạy ngược lại, Q2 cùng Q1 đuổi theo. Lúc này, Ngô Đức T3 và Ngô Ngọc S cũng chạy đến thì Q2 dùng tuýp sắt đánh nhau với Ngô Ngọc S. Nguyễn Công Q1 vật nhau với Ngô Đức T3 trong bụi cỏ thì Ngô Tiến T cầm dao vào chém vào chân, tay Nguyễn Công Q1 gây thương tích, hai bên đánh nhau được một lúc thì được người dân can ngăn.
Lúc này, nhóm Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S và Ngô Tiến T tập trung đứng tại hàng rào nhà bà Lê Thị L1 thì các bị can Phạm Trần Quốc Dương, Nguyễn Công N, Hoàng Quốc T5, Nguyễn Công S1 có cự cãi với nhóm T nhưng được can ngăn nên dừng lại. Vụ việc sau đó được trình báo đến cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc phạm tội của mình như trên.
Về hậu quả:
Hành vi tụ tập, chuẩn bị lực lượng, công cụ, phương tiện để đánh nhau tại khu vực công cộng của các bị cáo đã làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân trên địa bàn.
Về thương tích của những đối tượng tham gia đánh nhau:
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1062/TgT/2022 ngày 30/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Đức T3 như sau:
- “1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trái. Tỷ lệ: 21%.
- Tổn thương gãy mỏm khuỷu trái hiện gây hạn chế gấp duỗi cẳng tay trái trong khoảng trên 50 -> 1450. Tỷ lệ 13%.
- Sẹo vùng khuỷu trái kích thước 06x0,3cm. Tỷ lệ 02%. Sẹo vùng khuỷu trái kích thước 07x0,3cm. Tỷ lệ 02%.
- 2. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Ngô Đức T3 là: 34%.
- 3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: vật sắc.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1022/TgT/2022 ngày 28/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Thanh Q như sau:
- “1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo lưng phải kích thước 9,5x0,2cm. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo cánh tay trái kích thước 05x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
- Không định tỷ lệ cho chấn thương lưng trái, cẳng tay trái và ngón 1 bàn tay trái hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
- 2. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trương Thanh Q là: 04%.
- 3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Thương tích lưng phải và cánh tay trái: vật sắc. Chấn thương lưng trái, cẳng tay trái và bàn tay phải: Vật tày.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1023/TgT/2022 ngày 28/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Công Q1 như sau:
- “1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng vai phải kích thước 3,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
- Vết biến đổi sắc tố da vùng vai phảiTỷ lệ: 01%.
- Vết biến đổi sắc tố da vùng hõm ức. Tỷ lệ: 01%. Vết biến đổi sắc tố da vùng cánh tay trái. Tỷ lệ: 01%.
- Vết biến đổi sắc tố da vùng cẳng tay trái. Tỷ lệ: 01%.
- Sẹo cẳng chân trái kích thước 03x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
- 2. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Công Q1 là: 08%.
- 3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật tày hoặc vật tày có cạnh.
Tại Cáo trạng số 89/CT-VKSTP-ĐN ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công Q2, Phạm Hoàng Quốc V, Phạm Trần Quốc D, Ngô Ngọc S, Hoàng Quốc T5, Trương Thanh Q, Nguyễn Công N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Ngô Tiến T, Ngô Đức T3.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Ngọc S.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công N.
- Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC, ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S, Nguyễn Công N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Mức hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Tiến T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến ngày 17/01/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T3 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/01/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Công N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt các bị cáo khác, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
- Ngày 23 tháng 01 năm 2025, bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 23 tháng 01 năm 2025, bị cáo Ngô Ngọc S kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Tòa sơ thẩm áp dụng đúng tội danh, đúng khung hình phạt, hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là đúng với tính chất mức độ thiệt hại và hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Đối với bị cáo Ngô Ngọc S khi phạm tội là người chưa thành niên nên cần được áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo S tham gia đánh nhau, gây rối, có vai trò tích cực trong vụ án nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo S là đã phù hợp, không nặng.
Sau kháng cáo, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
*Những vấn đề khác:
Đối với bị cáo Nguyễn Công N tham gia đánh nhau, gây rối nhưng có vai trò hạn chế, nhận thức pháp luật còn hạn chế do là người chưa thành niên nên Cấp sơ thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC, ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương; là đúng quy định pháp luật;
Tuy nhiên, việc Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/01/2025); là không phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Do vậy, cần xem xét giảm hình phạt và giảm thời gian thử thách cho bị cáo Nguyễn Công N, theo đúng quy định pháp luật.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 355, 356, 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3 và Ngô Ngọc S, giữ nguyên hình phạt đối với các bị cáo T, T3 và S. Sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt và giảm thời gian thử thách đối với bị cáo Nguyễn Công N theo quy định.
5. Người bào chữa cho các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S trình bày:
Xin Hội đồng xét xử xem xét, do lo sợ mình bị đuổi đánh nên bị cáo T đã điện thoại T3, S lên để hỗ trợ, hai bên đã đánh nhau và bị cáo T3 đã bị thương tật 34%; xét về tương quan lực lượng bên bị cáo T chỉ có 03 người, bên kia đông gấp đôi; trong vụ án này, bị cáo S khi phạm tội chỉ mới 16 tuổi 03 tháng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T, T3; cho bị cáo S được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Việc Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/01/2025); là không đúng quy định của pháp luật; nên cần được xem xét lại theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:
Khoảng 20 giờ 25 phút ngày 22/8/2022, tại ấp P, xã P (nay xã P), huyện T, tỉnh Đồng Nai, hai nhóm gồm Phạm Hoàng Quốc V, Phạm Trần Quốc D, Hoàng Quốc T5, Trương Thanh Q, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công Q2, Nguyễn Công N và Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S đã có hành vi chuẩn bị lực lượng, công cụ, phương tiện đánh nhau tại khu vực công cộng làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân trên địa bàn.
Hành vi của các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Nguyễn Công Q1, Nguyễn Công Q2, Phạm Hoàng Quốc V, Phạm Trần Quốc D, Ngô Ngọc S, Hoàng Quốc T5, Trương Thanh Q, Nguyễn Công N đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
[3] Về kháng cáo:
Cấp sơ thẩm đã xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
3.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S không có tiền án, tiền sự.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Công N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và là lao động chính trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Ngô Tiến T, xuất phát từ mâu với Nguyễn Minh H1 khi nhóm Nguyễn Minh H1 truy đuổi thì bị cáo Ngô Tiến T gọi điện rủ bị cáo Ngô Đức T3 tham gia đánh nhau với nhóm Nguyễn Minh H1. Đối với bị cáo Ngô Đức T3 sau khi nghe bị cáo Ngô Tiến T gọi điện đã mang theo hung khí cùng với bị cáo T trực tiếp dùng hung khí tham gia đánh nhau. Mặt khác, bị cáo T3 cũng bị thương tích 34%. Hành vi của các bị cáo làm mất an ninh trật tự tại khu vực ấp P, xã P (nay là xã P), huyện T, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân tại khu vực này nên mức hình phạt phải cao hơn các đồng phạm khác và phải là hình phạt tù giam.
- Đối với bị cáo Ngô Ngọc S khi nghe bị cáo T bị đánh nên đã mang theo hung khí và sử dụng hung khí tham gia đánh nhau, gây rối. Các bị cáo Hoàng Quốc T5, Trương Thanh Q mang theo hung khí tham gia đánh nhau, gây rối nhưng các bị cáo S, T5, Q là người chưa thành niên, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế và khi quyết định mức hình phạt cần áp dụng thêm Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự để đưa ra mức hình phạt phù hợp đúng theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận được đơn kháng cáo của các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3 kháng cáo bản án sơ thẩm, xin được giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Ngô Ngọc S kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo;
3.3. Về hình phạt:
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới, nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, kháng cáo của các bị cáo không có căn cứ chấp nhận;
- Đối với bị cáo Ngô Ngọc S khi phạm tội là người chưa thành niên nên cần được áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo S tham gia đánh nhau, gây rối, có vai trò tích cực trong vụ án, nên mức hình phạt Cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo S là phù hợp quy định pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị cáo S không có căn cứ chấp nhận;
- Đối với bị cáo Nguyễn Công N tham gia đánh nhau, gây rối nhưng có vai trò hạn chế, nhận thức pháp luật còn hạn chế do là người chưa thành niên và khi quyết định mức hình phạt cần áp dụng thêm Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự để đưa ra mức hình phạt phù hợp đúng theo quy định của pháp luật. Bị cáo N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn là lao động chính trong gia đình. Việc Cấp sơ thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC, ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương; là đúng quy định pháp luật;
Tuy nhiên, việc Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/01/2025); là không phù hợp quy định pháp luật; không đúng quy định tại khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Do vậy, cần xem xét giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Công N, theo đúng quy định pháp luật.
[4] Về án phí:
Các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[6] Đối với phần trình bày của Người bào chữa cho các bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S, giữ nguyên về hình phạt đối với bản án sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[2]. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Sửa giảm về hình phạt cho bị cáo Nguyễn Công N do khách quan đối với bản án sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[3] Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Ngô Tiến T, Ngô Đức T3.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên; đối với bị cáo Ngô Ngọc S.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 1 Điều 119; Điều 124 của Luật tư pháp người chưa thành niên; đối với bị cáo Nguyễn Công N;
- Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC, ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S, Nguyễn Công N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Mức hình phạt:
- - Xử phạt: Bị cáo Ngô Tiến T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến ngày 17/01/2023.
- - Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T3 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt: Bị cáo Ngô Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 20 tháng 6 năm 2025).
Giao bị cáo Nguyễn Công N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Ngô Tiến T, Ngô Đức T3, Ngô Ngọc S mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Lê Bửu Thiện |
Bản án số 292/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự
- Số bản án: 292/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo kháng cáo bao gồm: Ngô Tiến Thành, Ngô Ngọc Sơn, Ngô Đức Trung; giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo này; sửa 01 phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo không kháng cáo Nguyễn Công Ngoan
