Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 292/2025/DS-PT

Ngày: 17-6-2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Ngọc Dũng;

Ông Phạm Văn Tỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 150/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế tài sản".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1942/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Ông Bùi Phùng L, sinh năm 1956.
    2. Địa chỉ: A, N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Bà Bùi Thị Ngọc Y, sinh năm 1956.
    4. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    5. Bà Bùi Ngọc D, sinh năm 1963. (Có mặt)
    6. Bà Bùi Thị Ngọc M, sinh năm 1965.
    7. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    8. Bà Bùi Thị Ngọc Á, sinh năm 1958.
    9. Địa chỉ: 8, Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Phùng L, bà Bùi Thị Ngọc Y, bà Bùi Thị Ngọc M, bà Bùi Thị Ngọc Á: Bà Bùi Ngọc D, sinh năm 1963, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

  2. Bị đơn:

    Ông Bùi Đăng S, sinh năm 1955;

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đinh Văn N, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Thị Phú Q, sinh năm 1959;
    2. Anh Bùi Nhật S1, sinh năm 1985;
    3. Anh Bùi Nhật Q1, sinh năm 1987;

    Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Phú Q, anh Bùi Nhật S1, anh Bùi Nhật Q1: Ông Đinh Văn N, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

    1. Bà Bùi Thị Ngọc H, sinh năm 1979; (Có mặt)
    2. Bà Bùi Thị Ngọc P, sinh năm 1982;

    Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Ngọc P: Bà Bùi Thị Ngọc H, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

  4. Người kháng cáo: Bà Bùi Ngọc D, là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc M, Bùi Thị Ngọc Á.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2023, đơn khởi kiện thay đổi, bổ sung ngày 06/11/2024 của các nguyên đơn cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Ngọc D đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn (ông L, bà Y, bà M, bà Á) trình bày:

Cha của các nguyên đơn và bị đơn là ông Bùi Phùng X, sinh 1929 (chết năm 2022), mẹ là bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1932 (chết năm 1972), ông X và bà N1 chết không có để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông X và bà N1 gồm có: Bùi Đăng S, Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M; ngoài ra ông X còn sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị K (sống) có sinh ra 02 người con tên: Bùi Thị Ngọc P và Bùi Thị Ngọc H, cha mẹ của ông X bà N1 đều đã chết.

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông nội của các nguyên đơn và bị đơn tên là Bùi Văn Đ cho ông Bùi Phùng X. Lý do trước đây các nguyên đơn cho rằng đất ông nội để lại cho ông X thì ông X đứng tên, không ngờ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nay các nguyên đơn xin xác định lại nguồn gốc đất tranh chấp là di sản của cha (ông X) chết để lại, bà Nguyễn Thị N1 không có liên quan đến đất này. Toàn bộ phần đất đang tranh chấp hiện nay nguyên đơn xác định là di sản của ông Bùi Phùng X. Từ trước đến nay ông X chưa từng đứng tên đối với phần đất này lý do ông X có dấu hiệu bệnh thần kinh (nguyên đơn cho rằng không có giấy tờ tài liệu chứng cứ chứng minh cũng như Toà án không có tuyên bố ông X mất năng lực hành vi dân sự) nên để ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ cũng chưa từng được nhà nước cấp bất kì giấy tờ gì về quyền sử dụng đất này. Nay các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đối với thửa đất 145, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho các thừa kế cụ thể như sau:

  • Ông Bùi Phùng L xin được nhận phần đất tại vị trí thửa 145A diện tích 1272,2m² đất trồng cây lâu năm, đối với phần mộ diện tích 33,3m² thổ mộ ông L xin nhận vì trên đó có mộ cha mẹ và người thân ông L. Đối với phần cây trồng và công trình có trên phần đất được nhận ông L đồng ý hoàn trả lại giá trị theo giá của Hội đồng định giá đã định tại biên bản ngày 08/5/2024 (thống nhất về số lượng cây trồng, năm tuổi; tài sản là vật kiến trúc theo giá trị tài sản theo biên bản định giá và thẩm định).
  • Bà Bùi Ngọc D xin được nhận phần đất tại vị trí thửa 145B diện tích 1088,1m² đất trồng cây lâu năm. Đối với phần cây trồng có trên phần đất được nhận đồng ý hoàn trả lại giá trị theo giá của Hội đồng định giá đã định tại biên bản ngày 08/5/2024 (thống nhất về số lượng cây trồng, năm tuổi cũng như giá trị tài sản theo biên bản định giá, thẩm định).
  • Bà Bùi Thị Ngọc Y xin được nhận phần đất tại vị trí thửa 145C diện tích 981,1m² đất trồng cây lâu năm. Đối với phần cây trồng có trên phần đất được nhận đồng ý hoàn trả lại giá trị theo giá của Hội đồng định giá đã định tại biên bản ngày 08/5/2024 (thống nhất về số lượng cây trồng, năm tuổi cũng như giá trị tài sản theo biên bản định giá, thẩm định).
  • Bà Bùi Thị Ngọc M xin được nhận phần đất tại vị trí thửa 145D diện tích 1026,9m² đất trồng cây lâu năm. Đối với phần cây trồng có trên phần đất được nhận đồng ý hoàn trả lại giá trị theo giá của Hội đồng định giá đã định tại biên bản ngày 08/5/2024 (thống nhất về số lượng cây trồng, năm tuổi cũng như giá trị tài sản theo biên bản định giá, thẩm định). Đối với phần mộ trên đất trước năm 1975 không người canh tác nên nhiều người mang người thân đến chôn trên đất, nhiều mộ không có người thân nhìn nhận nên bà M nhận đất vẫn đồng ý để mộ trên đất, không yêu cầu gì đối với các phần mộ này.
  • Bà Bùi Thị Ngọc Á xin được nhận phần đất tại vị trí thửa 145E diện tích 717,8m² đất trồng cây lâu năm. Đối với phần cây trồng có trên phần đất được nhận đồng ý hoàn trả lại giá trị theo giá của Hội đồng định giá đã định tại biên bản ngày 08/5/2024 (thống nhất về số lượng cây trồng, năm tuổi cũng như giá trị tài sản theo biên bản định giá, thẩm định). Đối với phần mộ trên đất trước năm 1975 không người canh tác nên nhiều người mang người thân đến chôn trên đất, nhiều mộ không có người thân nhìn nhận nên bà Á nhận đất vẫn đồng ý để mộ trên đất, không yêu cầu gì đối với các phần mộ này.

Đối với đất thổ cư các nguyên đơn xin nhận bằng giá trị, cụ thể: 350.000 đồng/01m² x 37,5m² một suất thừa kế = 13.125.000 đồng cho một thừa kế.

Các nguyên đơn và bà H, bà P sẽ tự thương lượng thoả thuận phần diện tích đất chênh lệch được nhận mà không cần giải quyết trong cùng vụ án. Trường hợp Toà án chia thừa kế đối với các thửa đất nguyên đơn nhận giáp thửa đất số 179 và 378 là giáp lối đi nên không yêu cầu Toà án xem xét về lối đi ra lộ công cộng. Các nguyên đơn thống nhất đã nhận đầy đủ tài liệu chứng cứ, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá cũng như Họa đồ hiện trạng sử dụng đất không có khiếu nại hay ý kiến gì.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của ông Bùi Đăng S cũng như tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn (ông Bùi Đăng S), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Lê Thị Phú Q, Bùi Nhật S1) là ông Đinh Văn N trình bày:

Cha của ông S tên Bùi Phùng X, sinh 1929 (chết năm 2022), mẹ tên Nguyễn Thị N1, sinh năm 1932 (chết năm 1972), ông X và bà N1 chết không để lại di sản, di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông X và bà N1 gồm: Bùi Đăng S, Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M, cha mẹ của ông X bà N1 đều đã chết. Ngoài ra, sau này ông X có chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị K và sinh được 02 người con tên: Bùi Thị Ngọc P và Bùi Thị Ngọc H.

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Bùi Văn Đ để lại cho bà Bùi Thị L1, bà L1 là chị ruột của ông X. Năm 1975 ông S đi lính Nguỵ nên sau năm 1975 bà L1 bảo lãnh về sống tại địa phương, bà L1 cho đất này cho ông S từ năm sau 1975, ông sống và canh tác từ đó cho đến nay. Năm 1982 ông S cưới bà vợ là bà Q, cùng năm này thì ông X về ở chung với ông S trên đất. Đất là của bà L1 cho ông S không phải là di sản của ông X tạo lập để lại nên không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Từ trước đến nay đất không có vô tập đoàn, đất được cấp cho hộ ông Bùi Đăng S vào ngày 03/4/1998, ông S đăng ký kê khai và đóng thuế từ năm 1986 đến hết năm 2004. Trên đất không có bất kì di sản nào của ông X. Ông S thống nhất với biên bản thẩm định, định giá và H1 đồ hiện trạng sử dụng đất không có khiếu nại hay ý kiến gì, tài liệu chứng cứ ông S đã nhận đầy đủ. Trường hợp Toà án chia thừa kế ông S không yêu cầu xem xét lối đi vì giáp thửa 118 là lối đi chỉ cần bắt cầu là qua được.

Tại đơn khởi kiện độc lập đề ngày 09/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Ngọc H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị Ngọc P1 trình bày:

Cha của bà là Bùi Phùng X, sinh 1929 (chết năm 2022), mẹ tên Nguyễn Thị K, sinh năm 1952 và hiện còn sống. Khoảng năm nào thì bà không nhớ, ông X và bà K chung sống ở nhà bà K ở ấp I (nay là ấp T) sinh ra được 02 người con chung là bà Bùi Thị Ngọc P và em gái của bà là Bùi Thị Ngọc H. Bà K từ trước đến nay không có sinh sống, canh tác trên phần đất đang tranh chấp nên không có liên quan gì trong vụ án này. Đến khoảng năm mấy ông X về sống với ông Bùi Đăng S thì bà không nhớ vì lúc đó bà còn nhỏ. Khi về sống với ông S thời gian không lâu thì phát bệnh nằm một chỗ, từ khi nằm một chỗ đến chết khoảng hơn 20 năm. Bà và các nguyên đơn cũng như bị đơn có cùng cha nhưng khác mẹ. Bà K có chồng khác trước khi ông X chết và hiện sống với chồng hiện tại có 03 người con chung. Do đó, tài sản này của ông X chứ không phải tài sản chung của ông X và bà K. Năm 15 tuổi bà đi làm thuê và sinh sống ở Bình Dương cho đến nay. Bà có nghe bà Bùi Ngọc D nói đất tranh chấp này của ông nội để lại cho ba của bà là Bùi Phùng X, bà không biết tên của ông nội vì không có hỏi. Đất từ trước đến nay vợ chồng ông Bùi Đăng S canh tác, quản lý, sử dụng nên bà và bà P không có bất kì tài sản nào trên đất cũng không có công sức đóng góp giữ gìn đất này. Nay bà và Bùi Thị Ngọc P yêu cầu chia thừa kế để mỗi người xin nhận 782,6m² đất trồng cây lâu năm, đồng ý đền bù giá cây trồng 35.000/01m² đất, đồng ý nhận giá trị đất đối với trường hợp được chia đất thổ cư. Trường hợp được chia thừa kế bà và bà P đồng ý bồi thường đoạn bê tông hỏng cho ông S theo giá của hội đồng đã định giá.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ các Điều 149, 609, 623, 649, 650, 651, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Ngọc H và Bùi Thị Ngọc P về việc yêu cầu ông Bùi Đăng S chia thừa kế tài sản là thửa đất số 987 và 988, tờ bản đồ số 4 bản đồ 299 (theo đo đạc chính quy là thửa 145, tờ bản đồ số 21), đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    (Có Họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng, tiền lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/4/2025, bà Bùi Ngọc D là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc M, Bùi Thị Ngọc Á có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo các nguyên đơn yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn và yêu cầu thu thập bằng khoán đất của ông Bùi Văn Đ trước năm 1975 tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Bùi Ngọc D trình bày: Các nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Ông Đinh Văn N trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bà Bùi Thị Ngọc H trình bày: Thống nhất đồng ý với yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
  • Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Điều chỉnh án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bà Bùi Ngọc D là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc M, Bùi Thị Ngọc Á, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Bà Bùi Ngọc D kháng cáo, đã thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định, nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung: Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đối với thửa đất số 987, 988, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 21) tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho các đồng thừa kế. Xét kháng cáo của các nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    • [2.1] Về thời hiệu khởi kiện và hàng thừa kế, Tòa án sơ thẩm nhận định phù hợp với quy định pháp luật về thừa kế.
    • [2.2] Về tài sản yêu cầu chia thừa kế: Phần đất tranh chấp là thửa đất 987, 988, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 21) tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
      • [2.2.1] Xét nguồn gốc đất tranh chấp: Các nguyên đơn xác định nguồn gốc đất tranh chấp của ông Bùi Văn Đ để lại cho các con ông Đ là bà L1, ông X, ông T mỗi người một phần, do ông X không minh mẫn nên để ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn cho rằng khi bị đơn về địa phương sinh sống thì được cô ruột là bà Bùi Thị L1 cho phần đất này để canh tác đến nay nên không đồng ý chia thừa kế. Xét thấy, các đương sự thống nhất nguồn gốc đất của ông Đ chết để lại nhưng lời trình bày của các bên không thống nhất do các nguyên đơn cho rằng ông Đ cho ông X phần đất này, còn bị đơn cho rằng phần đất này do bị đơn được bà L1 cho. Các bên chỉ trình bày mà không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình, không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông Đ được cấp quyền sử dụng đất. Các tài liệu trong hồ sơ vụ án do Toà án thu thập cũng thể hiện ông Đ không được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất 987, 988. Các nguyên đơn có cung cấp đơn xác nhận làm chứng của Bùi Thanh N2 để chứng minh việc ông X để cho ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 987, 988 vì ông X không minh mẫn, bị bệnh thần kinh nhẹ, mất trí nhớ. Tuy nhiên, qua xác minh của Tòa án xác định lời trình bày của người làm chứng chưa đủ cơ sở để chứng minh ông X bị bệnh thần kinh, mất trí nhớ. Các nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ gì khác chứng minh ông X bị bệnh thần kinh. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở khẳng định lời trình bày của các nguyên đơn.
      • [2.2.2] Về đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất: Phía bị đơn ông S cung cấp chứng cứ là các thông báo nghĩa vụ nộp thuế, biên lai thu thuế nông nghiệp thể hiện ông S là người nộp thuế nông nghiệp từ năm 1987 cho đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998, qua xác minh của Tòa án xác định việc ông S là người đóng thuế đất nông nghiệp là đúng. Ông S cũng là người kê khai sổ địa chính năm 1994 đối với thửa đất 987, 988 theo nội dung văn bản số 62/UBND ngày 17/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã T cụ thể: “Theo hồ sơ Địa chính lập năm 1994 đang lưu giữ tại xã thì thửa đất số 987, 988 – tờ bản đồ số 4 (Bản đồ 299) tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre là do ông Bùi Đăng S kê khai đăng ký. Ngoài thông tin trên, Ủy ban nhân dân xã không tìm thấy ông Bùi Văn Đ, bà Bùi Thị L1 đứng tên hay kê khai đăng ký 02 thửa đất nêu trên”. Năm 1998, ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa đất 987, 988 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 030668 do Ủy ban nhân dân huyện M (nay là Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre) cấp ngày 03/4/1998.
      • Thời điểm cấp quyền sử dụng đất năm 1998, phần đất tranh chấp đứng tên hộ ông Bùi Đăng S. Các nguyên đơn cho rằng thời điểm cấp đất năm 1998, trong hộ có tên ông X là đúng với nội dung văn bản số 118/CAH-QLHC ngày 17/4/2024 của Công an huyện M. Tuy nhiên, căn cứ vào văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai tại công văn số 235/PTNMT-ĐĐ ngày 28/02/2025 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M (hiện nay là Phòng Nông nghiệp Môi trường huyện M) có nội dung: “Thửa đất số 987, 988 tờ bản đồ số 4 (theo kết quả đo đạc chính quy: thửa đất số 145, tờ bản đồ số 21) tọa lạc tại xã T, huyện M do ông Bùi Đăng S, sinh năm 1955, cư trú ấp T, xã T kê khai, đăng ký đứng tên chủ sử dụng”.
      • “Tại thời điểm Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho hộ ông Bùi Đăng S là cấp giấy chứng nhận theo mẫu chung, tất cả các giấy chứng nhận được cấp tại thời điểm này (ngày 03/4/1998) đều thể hiện thông tin là “Hộ”kể cả trong hộ chỉ có 01 (một) người”.
      • Như vậy, mặc dù thửa đất tranh chấp đứng tên hộ ông S nhưng quy trình cấp giấy chứng nhận chỉ có ông S là người kê khai, đăng ký, không có danh sách thành viên hộ gia đình sử dụng đất, các đương sự cũng thống nhất thừa nhận từ trước đến nay người quản lý, canh tác đất tranh chấp chỉ có ông S. Các nguyên đơn xác định đất cấp cho hộ gia đình nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh ông X có công sức tạo lập quyền sử dụng đất. Từ các căn cứ trên xác định lời trình bày của các nguyên đơn là không có cơ sở. Tại phiên toà phúc thẩm, các nguyên đơn thừa nhận đã biết việc ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 987, 988 từ năm 1998 nhưng các nguyên đơn không có ý kiến tranh chấp, khiếu nại gì. Như vậy, qua quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 987, 988 và các văn bản trả lời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định thửa đất số 987, 988 do ông Đ để lại cho ông X. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đều cho thấy ông S được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thửa 987, 988.
      • Theo đơn kháng cáo, các nguyên đơn yêu cầu thu thập bằng khoán đất của ông Bùi Văn Đ trước năm 1975 tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B). Về nội dung này, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết thu thập thêm tài liệu, chứng cứ do chứng cứ trong hồ sơ đã rõ, thể hiện thửa đất 987, 988 được cấp lần đầu cho ông Bùi Đăng S, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu thu thập chứng cứ nêu trên của các nguyên đơn.
      • [2.2.3] Về quá trình quản lý sử dụng đất: Ông S là người quản lý sử dụng đất tranh chấp từ trước đến nay, điều này các bên đương sự đều thừa nhận. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính (nộp thuế nông nghiệp) cũng do ông S thực hiện từ trước đến nay. Quá trình sử dụng đất, ông S còn thực hiện quyền về tài sản đối với thửa đất, cụ thể vào năm 2011 ông S thế chấp toàn bộ đất tranh chấp để vay vốn thế chấp tài sản, hồ sơ vay vốn thể hiện chỉ có ông S ký thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng N3 chi nhánh huyện M. Đến năm 2012, ông S trả tất nợ và giải chấp xong, thời điểm này ông X vẫn còn sống nhưng không có ý kiến hay khiếu nại gì.
  3. [3] Từ các lẽ trên, căn cứ vào quá trình kê khai đăng ký và quản lý, sử dụng đất, Toà án cấp sơ thẩm xác định ông S là chủ sử dụng đất của phần đất tranh chấp là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là thửa đất 987, 988, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 21) không phải là di sản thừa kế của ông Bùi Phùng X chết để lại mà là tài sản của ông Bùi Đăng S nên Hội đồng xét xử điều chỉnh bổ sung quan hệ tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế tài sản”. Toà sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Ngọc H, Bùi Thị Ngọc P đối với các thửa đất nêu trên là có cơ sở.
  4. [4] Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bà Bùi Ngọc D không có cơ sở, đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  5. [5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do phần đất tranh chấp được xác định không phải là di sản thừa kế nên các nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Ngọc H, Bùi Thị Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng theo điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, các nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp.
  6. [6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  7. [7] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, các nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Ngọc D.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các điều 149, 609, 623, 649, 650, 651, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Ngọc H và Bùi Thị Ngọc P về việc yêu cầu ông Bùi Đăng S chia thừa kế tài sản là thửa đất số 987, 988, tờ bản đồ số 4 bản đồ 299 (theo đo đạc chính quy là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 21), đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    (Có Họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Bùi Thị Ngọc M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003045 ngày 24/01/2024 và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004632 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

    Bà Bùi Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.297.000đ (hai triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002940 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả cho bà Bùi Thị Ngọc H số tiền 1.997.000đ (một triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo số biên lai trên.

    Bà Bùi Thị Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.297.000đ (hai triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002941 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả cho bà Bùi Thị Ngọc P số tiền 1.997.000đ (một triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo số biên lai trên.

  3. Về chi phí tố tụng khác:

    Tổng chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và chi phí trích lục là 7.400.000₫ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Buộc các nguyên đơn (Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Bùi Thị Ngọc H và Bùi Thị Ngọc P) mỗi người phải chịu chi phí tố tụng số tiền là 1.057.000đ (một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

    Tuy nhiên, do các nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên buộc bà Bùi Thị Ngọc H và Bùi Thị Ngọc P mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho các nguyên đơn (Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M) số tiền 1.057.000đ (một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Các nguyên đơn Bùi Phùng L, Bùi Thị Ngọc Y, Bùi Thị Ngọc Á, Bùi Ngọc D và Bùi Thị Ngọc M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

    Hoàn trả cho bà Bùi Thị Ngọc M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009391 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - CCTHADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng TT, KT&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 292/2025/DS-PT ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 292/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger