|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc |
Bản án số: 292/2024/HS-ST
Ngày: 16 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.
Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Hồng Phương.
- Ông Nguyễn Văn Soan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 312/2024/HSST ngày 06/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2024/QĐXXST-HS ngày 02/12/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng X; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1971; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số I đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số D đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Giúp việc; Con ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1946 (đã chết) và mẹ bà Tạ Thị T, sinh năm 1942; Hoàn Cảnh gia đình có chồng: Lâm Thanh L và hai con: con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).
Bị hại: Bà Lê Thị Giang T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số F đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số F đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Phạm Văn D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số D đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2012, Nguyễn Hồng X sử dụng Chứng minh nhân dân số [...] (ngày, tháng, năm, sinh là 16/11/1971) để mở tài khoản số 0071000736669 tại Ngân hàng V nhưng sau đó không sử dụng. Do không nhớ bản thân có số tài khoản trên nên đến khoảng năm 2022, X sử dụng Căn cước công dân số [...] (ngày, tháng, năm sinh là 12/12/1971) để mở một tài khoản khác số 0331000514225 tại Ngân hàng V để sử dụng. Ngày 15/11/2021, chị Lê Thị Giang T1 sử dụng số tài khoản 0331000460524 tại Ngân hàng V để chuyển số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) đến số tài khoản 0771000736659 tại Ngân hàng V - chủ tài khoản Nguyễn Thị Thanh T2. Do vội vàng, bất cẩn nên chị T1 đã chuyển nhầm đến số tài khoản 0071000736669 tại Ngân hàng V - chủ tài khoản Nguyễn Hồng X.
Khoảng đầu tháng 3/2024, chị Nguyễn Thị Thanh T2 đến tìm gặp Nguyễn Hồng X tại địa chỉ 4 đường N, Phường C, quận G, thông báo việc chị Lê Thị Giang T1 (em của chị T2) có chuyển nhầm số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản số 0071000736669 tại Ngân hàng V của X và đề nghị chuyển trả lại số tiền này cho chị T1 thì X đồng ý cùng đi đến Ngân hàng để kiểm tra, nếu có tiền X sẽ hoàn trả cho chị T1. Khoảng mấy ngày sau, X cùng chị T2, chị T1 đến Ngân hàng V tại địa chỉ G đường H, quận P để kiểm tra. Tại đây, X đưa Căn cước công dân số [...] cho ngân hàng kiểm tra và được thông báo X chỉ có một số tài khoản là số 0331000514225. Do đó, chị T2 đưa số tài khoản 0071000736669 tại Ngân hàng V của X mà chị T1 đã chuyển tiền nhầm cho ngân hàng kiểm tra thì được biết tài khoản này do Xuân mở bằng Chứng minh nhân dân số B và có số tiền [...] đồng do chị T1 chuyển nhầm. Tuy nhiên, do ngày tháng năm sinh chủ tài khoản của X được mở tại ngân hàng bằng số Chứng minh nhân dân khác với ngày tháng năm sinh trong Căn cước công dân hiện tại của X nên X không rút được tiền. Đồng thời, Ngân hàng đề nghị chị T1, chị X đến phòng G tại số F đường Q, Phường A, quận G là nơi mở tài khoản để kiểm tra hồ sơ gốc. Do hết giờ giao dịch và X phải đi đón con nên X hẹn chị T2 hai ngày sau sẽ cùng đi đến ngân hàng kiểm tra. Sau đó chị T2, chị T1 nhiều lần gọi điện thoại cho X để hẹn đến ngân hàng nhưng X hứa hẹn, lấy lý do không đi được. Đến ngày 06/03/2024, X một mình đi đến Ngân hàng V Chi nhánh Q tại số F đường Q, Phường A, quận G để kiểm tra thì biết được tài khoản số 0071000736669 tại Ngân hàng V của X có số tiền 100.000.000 đồng do chị T1 chuyển nhầm nên X nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này. Do đó, X không chuyển trả lại số tiền trên cho chị T1 mà sử dụng ứng dụng Internet banking nhiều lần thực hiện giao dịch để chuyển toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng từ tài khoản 0071000736669 tại Ngân hàng V của X đến nhiều tài khoản để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Đến ngày 19/3/2024, chị T1 không liên lạc được với X và biết được X đã rút số tiền trên ra khỏi tài khoản nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G trình báo sự việc.
2
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Lê Thị Giang T1 yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 100.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 381/CT-VKS-QGV ngày 30/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Hồng X về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử:
Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017
Từ sự phân tích đánh giá như trên:
Đề nghị HĐXX Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng X phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Đề xuất mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng X từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.
Buộc bị cáo hoàn trả số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng cho bà Lê Thị Giang T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Nguyễn Hồng X đã khai nhận hành vi chiếm giữ trái phép tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
3
[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Nguyễn Hồng X phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, bị cáo sẵn sàng phạm tội để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bất chấp hậu quả xảy ra. Tài sản do bị cáo chiếm giữ trái phép là số tiền 100.000.000 đồng, nên Viện kiểm sát quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 176 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Do đó cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án của bị cáo nên miễn phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là bà Lê Thị Giang T1 yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 100.000.000 đồng, đây là số tiền bị cáo thực hiện hành vi chiếm giữ trái phép có được nên yêu cầu của bà T1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng X phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 176; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng X 09 (chín) tháng tù giam. Thời hạn tù được tính kể từ bắt thi hành án.
Buộc bị cáo phải trả lại cho người bị hại Lê Thị Giang T1 số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
4
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Hồng X chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |
Bản án số 292/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về chiếm giữ trái phép tài sản
- Số bản án: 292/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chiếm giữ trái phép tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chiếm giữ trái phép tài sản
