|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 291/2024/HS-PT Ngày: 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Khắc Thịnh |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Ngọc Thông |
| Bà Nguyễn Thị Võ Trinh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 254/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1971 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Cha tên: Trần Văn T1 (Đã Chết); Mẹ tên: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1940; Vợ: Nguyễn Thị Á, sinh năm: 1974; Con: Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền sự và tiền án: Không; Tạm giữ và tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 23/02/2024, sau khi uống rượu về nhà tại khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo T lớn tiếng chửi thề và đánh vợ là chị Á gây mất trật tự trong khu vực. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, chị Á gọi điện thoại trình báo Công an thị trấn M. Nhận tin báo, anh L1 là Trưởng Công an thị trấn M phân công 03 đồng chí trong ca trực là anh S, anh H, anh K (Công an viên) đến hiện trường yêu cầu bị cáo T chấm dứt hành vi và mời về trụ sở Công an thị trấn M để làm việc. Khi thấy lực lượng Công an đến, bị cáo T tiếp tục chửi bới lớn tiếng. Thấy vậy, anh K nói với bị cáo T: “Chú nhậu về chửi bới làm ảnh hưởng đến hàng xóm xung quanh, mời chú về cơ quan làm việc”. Nghe vậy, bị cáo T dùng lời lẽ thô tục lớn tiếng chửi, rồi chạy ra phía sau nhà lấy 01 con dao bằng kim loại dài 33cm đuổi chém anh K khoảng 100m. Lúc này, anh S và anh H đuổi theo tước lấy con dao, chở bị cáo T về trụ sở để làm việc. Diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo T được anh S dùng điện thoại cá nhân quay lại và giao nộp cho cơ quan điều tra.
Tại Kết luận giám định số 721/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Tệp dữ liệu video có tên “VIDEO Chống người thi hành công vụ.mp4” gửi giám định không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, Điều 38, điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 18 giờ ngày 23/02/2024, sau khi uống rượu về nhà, T lớn tiếng chửi thề và đánh vợ là chị Á gây mất trật tự trong khu vực. Nhận được tin báo, anh Đoàn Phước L1 là Trưởng Công an thị trấn M phân công 03 đồng chí Công an viên trong ca trực là Nguyễn Thái S, Dương Văn H và Trần Văn K đến nhà của T yêu cầu T chấm dứt hành vi lớn tiếng chửi thề, đánh vợ và mời T về trụ sở Công an thị trấn M để làm việc. Tại đây, bị cáo T đã có hành vi dùng lời lẽ thô tục lớn tiếng chửi và dùng dao rượt đuổi chém anh K. Lúc này, anh S và anh H đuổi theo tước lấy con dao, chở bị cáo T về trụ sở để làm việc.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và quản lý trị an của chính quyền địa phương, trực tiếp xâm phạm đến người thi hành công vụ đang thực hiện công vụ của họ. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Vậy mà khi các anh S, H, K đều là Công an viên đến nhà của bị cáo để yêu cầu bị cáo chấm dứt hành vi lớn tiếng chửi thề, đánh vợ và mời về trụ sở Công an thị trấn M để làm việc thì bị cáo T đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Án sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ và đã áp dụng mức hình phạt đầu khung đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Văn T là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, Điều 38, điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 291/2024/HS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm về tội chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 291/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ
