|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 291/2024/HS-ST Ngày: 13 - 11 -2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Văn Đài;
Ông Đinh Ngọc Hùng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 276/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Lê Quang T, sinh năm 1987, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ (Đã chết) và bà Phan Thị L (Đã chết); Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: 05 tiền án cụ thể:
- Ngày 08/6/2006, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2008. (Chưa được xóa án tích)
- Ngày 11/02/2009, bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 (năm) năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2013. (Chưa được xóa án tích)
- Ngày 28/8/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 03 (ba) năm tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/5/2016. (Chưa được xóa án tích)
- Ngày 29/7/2017, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù 27/7/2021. (Chưa được xóa án tích)
- Ngày 09/2/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2023. (Chưa được xóa án tích)
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 18/3/2004, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 (chín) tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2004. (Bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi)
- Ngày 10/12/2004, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2005. (Bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi)
Bị cáo bị bắt ngày 18/7/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
2/ Họ và tên: Nguyễn Minh N, sinh năm 1957 tại tỉnh Lào Cai; Hộ khẩu thường trú: Thôn P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai, Nơi cư trú: 32/7, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức N1 (Đã chết) và bà Ngô Thị D (Đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1958; Có 03 người con, con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Lưu Hoàng Đ1, sinh năm 2005.
Trú tại: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn L1, sinh năm 1988.
Trú tại: Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1993.
Trú tại: 65/6, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 10/7/2024, Lê Quang T đi thang thang trong nghĩa địa ấp Bùi Chu T2 thấy anh Lưu Hoàng Đ1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 60B8-227.30 đến nghĩa trang B ấp B, xã B để thắp nhang. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 60B8-227.30 của anh Đ1 nên đến làm quen nói chuyện với anh Đ1 và phụ anh Đ1 cùng rửa mộ. Đến khoảng 16 giờ 15 phút, cả hai cúng mộ xong thì T nhờ anh Đ1 chở về nhà bạn của T thì anh Đ1 đồng ý. Sau đó, anh Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 60B8-227.30 chở T về nhà theo hướng dẫn của T. Khi đi đến đường P thì T nói đường đi vào nhà bạn khó đi nên T nói với anh Đ1 là để T điều khiển xe cho quen đường. Do tin tưởng nên anh Đ1 đồng ý và ngồi phía sau xe để T điều khiển xe mô tô biển số 60B8-227.30 chở Đ1 đi. Khi đến đoạn đường đất P (phía sau trại heo P) thuộc xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì T lấy lý do đường xấu nên nói Đ1 xuống xe đi bộ để T chạy xe một mình. Anh Đ1 xuống xe đi bộ phía sau cách T khoảng 5m thì T tăng ga bỏ chạy ra hướng đường B - L để chiếm đoạt xe mô tô biển số 60B8-227.30.
Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển số 60B8-227.30 của anh Đ1 đến phường T, thành phố B, tỉnh Biên Hòa bán chiếc xe trên cho Nguyễn Minh N với giá 1.600.000 đồng. Khi bán T nói với N là xe của T bị mất giấy tờ nên N đã đồng ý mua. Sau khi mua xe xong Ngân kiểm tra trong cốp xe mô tô biển số 60B8-227.30 phát hiện có giấy đăng ký xe mang tên Lê Thị H1. Lúc này N biết rõ chiếc xe trên do phạm tội mà có nhưng vì sợ mất tiền bỏ ra mua xe nên N không trình báo Cơ quan chức năng mà nhờ anh Đỗ Văn H bán xe trên cho anh Trần Văn L1 với giá 6.000.000 đồng (H và anh L1 không biết xe trên do phạm tội mà có). Sau khi bán được xe H đưa cho ông N số tiền 4.200.000 đồng thì được N cho 500.000 đồng. Sau khi mất xe anh Đ1 đã trình báo sự việc đến Công an xã B. Công an xã B đã chuyển Công an huyện T giải quyết theo quy định.
Về vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B8-227.30;
Theo bản kết luận định giá tài sản số: 83/KL-HĐĐGTS ngày 2/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai kết luận: Xe mô tô biển số 60B8-227.30 do T chiếm đoạt của anh Đức trị G 7.500.000 đồng.
Ngày 18/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Quang T về tội: “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Quá trình làm việc, T đã khai nhận hành vi phạm tội xảy ra ngày 10/7/2024 tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Tại Cáo trạng số: 277/CT-VKS-TB ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo Lê Quang T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và Nguyễn Minh N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo Lê Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Lê Quang T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 323 ; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 60B8-227.30 là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị H1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bà H1.
- Về phần dân sự: Số tiền 6.000.000 đồng bị cáo N và anh H đã tự nguyện giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại cho anh Trần Văn L1. Anh Lưu Hoàng Đ1 không yêu cầu T phải bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phần tranh luận: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo N trình bày hiện đang bị bệnh nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[1.2] Về sự vắng mặt của người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên toà: Toà án đã tống đạt Quyết định xét xử, giấy triệu tập tới tham gia phiên toà nhưng bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên, các đương sự đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Từ đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Quang T là người đã có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 10/7/2024, tại ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Quang T đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt xe mô tô biển số 60B8-227.30 của anh Lưu Hoàng Đ1 với tổng trị giá 7.500.000 đồng. Sau khi bị cáo Nguyễn Minh N mua xe mô tô biển số 60B8-227.30 của T thì N biết rõ xe mô tô biển số 60B8-227.30 là do phạm tội mà có nhưng N vẫn nhờ anh Đỗ Văn H bán xe trên cho anh Trần Văn L1 với giá 6.000.000 đồng để kiếm lời. Hành vi của bị cáo Lê Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015; Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tang nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về nhân thân: Bị cáo Lê Quang T có nhân thân xấu.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho các bị cáo. Riêng bị cáo N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện sửa chữa bồi
thường thiệt hại nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo N.
[4] Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã cố tình vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự và gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4.1] Bị cáo Lê Quang T có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản. Lẽ ra, khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo phải lấy đó làm bài học răn dạy bản thân, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và nhằm để răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[4.2] Bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người cao tuổi, có nhân thân tốt, trong thời gian được tại ngoại bị cáo chấp hành nghiêm quy định pháp luật tại địa phương nơi cư trú. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 60B8-227.30 là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị H1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bà H1 theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với anh Đỗ Văn H (giúp bị cáo N bán xe mô tô biển số 60B8-227.30) và anh L1 (Mua xe mô tô biển số 60B8-227.30 của H) không biết xe trên do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xử lý đối với anh H và anh L1.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Quang T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Minh N 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Quang T và Nguyễn Minh N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 291/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 291/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo xe
