Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN


Bản án số: 291/2024/HS-ST

Ngày 27-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Thọ và Bà Lê Thị Mai Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 277/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với:

1. Họ và tên: Nguyễn Tùng D, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 9 năm 2005 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1986; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ con: chưa có

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân: Tại bản án số 02/2022/HS-PTNCTN ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Xuân N, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 3 năm 2004 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Xuân T2, sinh năm: 1966, Con bà: Trần Thị M, sinh năm: 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ con: chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

3. Họ và tên: Trần Minh H1, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 10 năm 2004 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Trần Thanh L, sinh năm: 1976, Con bà: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ con: chưa có

- Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đỗ Anh T3, sinh năm 2004, có mặt.

Địa chỉ: Xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Nguyễn Xuân U, sinh năm 2000, có mặt.

Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

3. Chị Trần Thị Q, sinh năm 1979, có mặt.

Địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 01/4/2024, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố T làm nhiệm vụ trên đường Đ, đoạn thuộc khu vực tổ C, phường Q, thành phố T thì phát hiện 01 nam thanh niên ngồi trên xe mô tô BKS 20F1-542.69 dừng bên đường có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Nam thanh niên khai tên là Nguyễn Xuân N. Nguyên khai nhận bản thân đang cất giấu ma tuý loại Tobaco và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải N đang mặc ra 06 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa thảo mộc khô giao nộp cho tổ công tác. Nguyên khai đây là ma tuý T4 do Nguyễn Tùng D bảo N đến lấy tại phòng trọ của Trần Minh H1 mang đi bán cho khách để kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với N, niêm phong vật chứng trong bì kí hiệu N theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen và 01 xe mô tô BKS 20F1-542.69.

Hồi 20 giờ 25 phút ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Xuân N tại phòng trọ số A, khu nhà trọ số A thuộc tổ B, phường T, thành phố T, phát hiện thu giữ tại mặt bàn trong phòng có 01 bao thuốc lá có chữ Amsterdam bên trong có 01 điếu thuốc được cuốn bằng giấy màu trắng bên trong là thảo mộc khô và 01 túi nilon màu trắng bên chứa thảo mộc khô được niêm phong toàn bộ trong bì kí hiệu X.

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Trần Minh H1 tại phòng trọ số A, khu nhà trọ số A thuộc tổ B, phường T, thành phố T, phát hiện thu giữ tại túi áo treo trên tường trong phòng có 01 hộp giấy màu trắng bên trong có 07 điếu thuốc được cuốn bằng giấy màu trắng bên trong đều chứa thảo mộc khô, 01 túi nilon màu trắng bên chứa thảo mộc khô được niêm phong trong bì kí hiệu H2 Ngoài ra, tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE của Trần Minh H1.

Quá trình kiểm tra, khám xét tại khu T thuộc tổ B, phường T, thành phố T, Đỗ Anh T3, sinh năm 2004, HKTT: Xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 cân điện tử màu trắng, 20 túi nilon màu trắng và 20 vỏ hộp giấy, theo T3 khai là của Nguyễn Tùng D gửi tại phòng trọ số 104 của T3. Ngoài ra, tạm giữ thêm của T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng.

Hồi 14 giờ 15 phút ngày 16/4/2024, Nguyễn Tùng D ra đầu thú tại Công an thành phố T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Ngày 02/4/2024, tại V - Bộ C tiến hành cân xác định khối lượng số thảo mộc khô thu giữ được của NH1 và giao 03 bì niêm phong kí hiệu N, X, H cho V để trưng cầu giám định.

- Phong bì ký hiệu N: 06 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa thảo mộc khô, tổng khối lượng mẫu thảo mộc khô: 4,644 gam.

- Phong bì ký hiệu X:

+ 01 (một) bao thuốc lá có chữ Amsterdam, bên trong có 01 điếu thuốc, được quấn bằng giấy màu trắng, bên trong chứa thảo mộc khô, khối lượng thảo mộc khô: 0,816 gam.

+ 0,570 gam thảo mộc khô bên trong túi nilon màu trắng.

- Phong bì ký hiệu H:

+ 0,866 gam thảo mộc khô bên trong túi nilon màu trắng.

+ 01 hộp giấy bên trong có 07 điếu thuốc lá đầu lọc, được cuốn bằng giấy màu trắng, bên trong mỗi điếu đều chứa thảo mộc khô, tổng khối lượng thảo mộc khô: 5,957gam.

Tại Kết luận giám định số 2419 ngày 09/4/2024 của V Bộ C kết luận: Tìm thấy ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu N, X, H gửi giám định.

- Mẫu ký hiệu H2

+ Khối lượng thảo mộc khô trong túi nilon màu trắng là 0,866 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong 0,866 gam mẫu là 0,0007 gam.

+ Khối lượng thảo mộc khô được cuốn trong các điếu thuốc lá đầu lọc là 5,957 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong 5,957 gam mẫu là 0,015 gam.

- Khối lượng thảo mộc khô của mẫu ký hiệu N là 4,644 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong 4,644 gam mẫu là 0,012 gam.

- Mẫu ký hiệu X

+ Khối lượng thảo mộc khô bên trong túi nilon màu trắng là 0,570 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong 0,570 gam mẫu là 0,001 gam.

- Khối lượng thảo mộc khô được cuốn trong điếu thuốc lá đầu lọc là 0,816 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong 0,816 gam mẫu là 0,003 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tùng D, Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 26/3/2024, Nguyễn Tùng D mua của một người không quen biết trên mạng xã hội được 11 túi nilon chứa ma túy Tobacco và 02 bao thuốc chứa 08 điếu ma túy Tobacco với giá 380.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Buổi chiều cùng ngày, D mua 01 cân điện tử mục đích để cân, chia nhỏ ma túy Tobacco. Khoảng gần 18 giờ cùng ngày, D mang toàn bộ số ma túy Tobacco và cân điện tử trên đến nhà trọ số A thuộc tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Đến nơi, D gặp và đưa cho Nguyễn Xuân N 01 túi ma túy Tobacco để khi nào có Khách thì sẽ bán. N nhận lấy túi ma túy rồi cất giấu ở phòng trọ của N là phòng số 127 của khu trọ. Tiếp theo, D gặp và đưa cho Trần Minh H1 01 bao thuốc chứa 01 điếu ma túy Tobacco để khi nào có khách thì sẽ bán. H1 đã nhận số ma túy trên và cất giấu trong phòng trọ số 102 của H1. Sau đó, D một mình mang 10 túi ma túy Tobacco, 01 bao thuốc chứa 07 điếu ma túy Tobacco, 01 cân điện tử đến phòng trọ số 104 của Đỗ Anh T3 và cất giấu ở khu vực giá để giày trong phòng T3.

Đến khoảng 12 giờ ngày 28/3/2024, D đi mua 20 túi nilon và 20 vỏ hộp giấy cotton mục đích dùng vào việc chia nhỏ ma túy T5 và đóng gói để bán rồi tiếp tục mang đến phòng trọ của Đỗ Anh T3 cất giấu tại khu vực giá để giày trong phòng.

Khoảng 19 giờ ngày 31/3/2024, D gọi điện cho H1N bảo H1 đưa cho N 01 bao thuốc chứa 01 điếu ma túy Tobacco Dương đưa cho H1 ngày 26/3/2024 để khi nào có khách thì N mang đi bán. Sau đó, tại phòng trọ của H1, H1 đã trực tiếp đưa ma túy cho N mang về cất giấu trong phòng trọ của N.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/4/2024, D bảo H1 đến lấy ma túy trong khu vực giá để giày ở phòng T3 để đi bán. H1 sang phòng trọ của T3, thấy T3 đang ngủ. H1 lấy 10 túi ma túy Tobacco và 01 bao thuốc lá chứa 07 điếu ma túy T5 ở khu vực giá để giày trong phòng mang ra ngoài. D bảo H1 đóng gói 02 túi ma túy T4 vào 01 hộp giấy rồi mang gửi xe ô tô đến huyện Đ cho khách của D, số ma túy còn lại H1 mang về cất giấu tại phòng trọ của H1. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D tiếp tục bảo H1 mang ma túy đi bán, nhưng do H1 có việc bận nên không mang ma túy đi bán được, vì vậy D bảo N đến gặp H1 để lấy ma túy đi bán. Sau đó, N đến gặp H1 rồi H1 đưa cho N 07 túi ma túy Tobaco. D bảo N đóng 01 túi ma túy Tobacco vào 01 hộp giấy rồi gửi xe ô tô đến huyện Đ cho khách của D. Còn lại 06 túi ma túy, N điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát: 20F1- 542.69 và mang đến khu vực đường Đ thuộc tổ C, phường Q, thành phố T để bán cho khách của D với giá 400.000 đồng nhưng N chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an thành phố T, kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng, tạm giữ đồ vật theo quy định. Mỗi lần D bảo H1N mang ma túy đi bán thì D trả công cho H1N mỗi người 20.000 đồng.

Cáo trạng số 281/CT-VKSTPTN ngày 12 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Tùng Dương, Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tùng D, Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự xử phạt:

  • Nguyễn Tùng D từ 28 đến 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chuyển 36 tháng tù cho hưởng án treo thành tù giam về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 02/2022/HS-PTNCTN ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án từ 5 năm 4 tháng đến 5 năm 6 tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam của Bản án số 02/2022/HS-PTNCTN ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên từ ngày 05/8/2021 đến ngày 20/01/2022.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 (khoản 2 đối với bị cáo Trần Minh H1) Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 từ 24 đến 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu 2419/C09 (TT2), bên trong có chứa mẫu vật và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 20 (hai mươi) túi nilon màu trắng; 20 (hai mươi) vỏ hộp giấy cotton.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE của Nguyễn Xuân N, số IMEI: 352980097231713, gắn sim điện thoại số thuê bao: 0348.840.xxx được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT1; 01 (một) điện thoại di động màu xanh, đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE của Trần Minh H1, số IMEI 1:35 283461 001779 6, IMEI 2: 35 283461 047692 7, gắn sim điện thoại số thuê bao: 0392.824.xxx được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT2 và 01 (một) cân điện tử màu trắng của Nguyễn Tùng D.
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Xuân U 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 20F1-542.69, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ đen, số máy: E3X9E646370, số khung: RLCUE3240KY236668 (đăng ký xe mang tên Nguyễn Xuân U, sinh năm 2000, trú tại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) và trả cho Đỗ Anh T3 01 (một) điện thoại di động màu vàng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE, số IMEI 1: 353149100928413, IMEI 2: 353149100826484, gắn sim điện thoại số thuê bao: 0366.221.xxx được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT3.

Về án phí các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.

Xét thấy, lời nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 18 giờ ngày 01/4/2024, Nguyễn Xuân N đang có hành vi tàng trữ 4,644 gam thảo mộc khô có chứa 0,012 gam chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Công an thành phố T, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hồi 20 giờ 25 phút cùng ngày, tiến hành khám xét nơi ở của Nguyên phát hiện thu giữ 1,386 gam thảo mộc khô có chứa 0,004 gam chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA. Tổng khối lượng thảo mộc khô thu giữ của N là 6,03 gam, trong đó chứa 0,016 gam chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA nhằm mục đích để bán cho khách kiếm lời.

Hồi 20 giờ 45 phút, ngày 01/4/2024, tiến hành khám xét nơi ở của Trần Minh H1 phát hiện H1 tàng trữ 6,823 gam thảo mộc khô có chứa 0,0157 gam chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Tổng số ma túy thu giữ của NH1 như trên là của Nguyễn Tùng D cung cấp cho NH1 để mang đi bán cho khách của D. Tổng số chất ma túy của D là 12,853 gam, trong đó có chứa 0,0317 gam chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tùng D, Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét vai trò trong vụ án: Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án mang tính chất đồng phạm, bị cáo Nguyễn Tùng D cung cấp cho NH1 để mang đi bán cho khách nên bị cáo Dương giữ vai trò chính. Bị cáo Nguyễn Xuân N là người trực tiếp mang ma túy đi bán cho khách, bị cáo Trần Minh H1 tàng trữ ma túy mục đích mang đi bán nên hai bị cáo này giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.

[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú; bị cáo H1 có bà nội là bà Lương Thị H3 là người có công với nước, thuộc gia đình chính sách, được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận nên bị cáo D và bị cáo H1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

- Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Tùng D có nhân thân xấu ngày 20/01/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do bị cáo khi phạm tội dưới 16 tuổi nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự được coi là không có án tích. Trong vụ án này bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách, do vậy cần phải chuyển 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 02/2022/HS-PTNCTN ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Buộc bị cáo D phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt các bị cáo buộc cách ly xã hội mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời cần tiếp tục tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy, trước khi phạm tội bị cáo D không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo NH1 là sinh viên sống phụ thuộc gia đình, các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án cần được xử lý như sau:

  • - 01 bì niêm phong ký hiệu 2419/C09 (TT2), bên trong có chứa mẫu vật và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 20 (hai mươi) túi nilon màu trắng; 20 (hai mươi) vỏ hộp giấy cotton; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 1,560 gam ma tuý, loại Ketamine và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 0,596 gam ma tuý, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu. Đây là số ma túy còn lại sau giám định cấm sử dụng, lưu hành và các vỏ bao bì không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE của Nguyễn Xuân N, số IMEI: 352980097231713, gắn sim điện thoại số thuê bao: 0348.840.xxx được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT1; 01 (một) điện thoại di động màu xanh, đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE của Trần Minh H1, số IMEI 1:35 283461 001779 6, IMEI 2: 35 283461 047692 7, gắn sim điện thoại số thuê bao: 0392.824.xxx được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT2; 01 (một) cân điện tử màu trắng của Nguyễn Tùng D. Đây là vật chứng các bị cáo dùng làm phương tiện để liên lạc, trao đổi, mua bán chất ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE của Đỗ Anh T3, số IMEI 1: 353149100928413, IMEI 2: 353149100826484, gắn sim điện thoại số thuê bao: 0366.221.xxx được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT3; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 20F1-542.69, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ đen, số máy: E3X9E646370, số khung: RLCUE3240KY236668. (Đăng ký xe mang tên Nguyễn Xuân U, sinh năm 2000, trú tại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Quá trình điều tra xác định tài sản của anh T3 và anh U không liên quan đến vụ án nên cần trả cho anh T3 và anh U quản lý, sử dụng.

[8]. Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ, Nguyễn Tùng D khai mua trên mạng xã hội của một người không quen biết. Quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý

[9]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:

Đối với anh Nguyễn Xuân U là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô BKS 20F1-542.69. Xét thấy anh U cho Nguyễn Xuân N mượn xe nhưng không biết N sử dụng xe để đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý.

Đối với bà Trần Thị Q là chủ khu nhà trọ thuộc tổ B, phường T, thành phố T, xét thấy bà Q không biết Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 tàng trữ ma tuý tại phòng trọ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý.

Đối với lời khai của D, N, H1 về việc bán ma tuý cho 02 người có địa chỉ tại huyện Đ và Đ vào ngày 01/4/2024, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Đối với Đỗ Anh T3, là người thuê và quản lý phòng trọ nơi D cất giấu các đồ vật liên quan đến hành vi mua bán ma tuý. Quá trình điều tra xác định T3 không biết D để ma túy và các đồ vật liên quan tại chỗ ở của T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tùng D, Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 (khoản 2 đối với bị cáo Nguyễn Tùng D, Trần Minh H1) Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 (Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 107 đối với Nguyễn Tùng D), Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình phạt chính:

  • - Xử phạt Nguyễn Tùng D 28 (hai mươi tám) tháng tù. Chuyển 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 02/2022/HS-PTNCTN ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/4/2024 (Được trừ đi thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2021 đến ngày 20/01/2022 theo bản án Bản án số 02/2022/HS-PTNCTN ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên).
  • - Xử phạt Nguyễn Xuân N 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/4/2024.
  • - Xử phạt Trần Minh H1 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.

Quyết định tạm giam các bị cáo Nguyễn Tùng D, Nguyễn Xuân N, Trần Minh H1 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong đúng quy định số 2419/C09 (TT2) (bên trong có chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: Mẫu H: 0,704 gam thảo mộc khô trong túi; 5,687 gam thảo mộc khô trong điều + Mẫu N: 4,467 gam thảo mộc khô; Mẫu X: 0,397 gam thảo mộc khô trong túi; 0,627 gam thảo mộc khô trong điếu và vỏ bao gói mẫu gửi giám định, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của V Bộ C); 20 (hai mươi) túi nilon màu trắng; 20 (hai mươi) vỏ hộp giấy cotton.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: ĐT1 (bên trong có chứa 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE, số IMEI: 35 298009 723171 3, số thuê bao: 0348.840.624, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T) của Nguyễn Xuân N; 01 (một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: ĐT2 (bên trong có chứa 01 điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE, số IMEI1: 35 283461 001779 6, số IMEI2: 35 283461 047692 7, số thuê bao: 0392.824.333, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T) của Trần Minh H1; 01 (một) cân điện tử màu trắng.
  • - Trả cho Đỗ Anh T3: 01(một) bì niêm phong ký hiệu ĐT3 (bên trong có chứa 01 điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu IPHONE, số IMEI1: 35 314910 092841 3, số IMEI 2: 35 314910 082648 4, số thuê bao: 0366.221.806, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an T);
  • - Trả cho Nguyễn Xuân U 01 (một) xe mô tô gắn biển kiểm soát: 20F1-542.69; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; Số loại: SIRIUS; Nhãn hiệu: YAMAHA; Màu sơn: Đỏ - Đen; Số máy: E3X9E646370; Số khung: RLCUE3240KY236668; Dung tích xi lanh: 110 cm³; Xe cũ đã qua sử dụng, xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật.

(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T với Chi cục THA dân sự thành phố T số 286 ngày 24/9/2024).

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- VKSND TP. Thái Nguyên;

- CQĐT Công an TP. Thái Nguyên;

- Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Nguyên;

- Trại tạm giam CATP Thái Nguyên;

- Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;

- Bị cáo;

- Lưu: HS, VT, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 291/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Tùng Dương, Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Minh Huy phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger