Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 291/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 295/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Tô Văn K, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp. Thường trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn N, sinh năm 1971 và bà Trần Thị T, sinh năm 1970; vợ Nguyễn Thị Phát D, sinh năm 1997; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2023 đến nay, có mặt.

2. Lê Thành N1, sinh năm 1992, tại tỉnh Sóc Trăng. Thường trú: số B, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành H, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 26/9/2023 đến ngày 30/9/2024 được trả tự do, đến ngày 06/5/2024 bị bắt tạm giam đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tô Văn N, sinh năm 1971. Thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Tô Văn K và Lê Thành N1 là hai đối tượng nghiện ma tuý, có mối quan hệ bạn bè xã hội với nhau. Khoảng 16 giờ 55 phút ngày 26/9/2023, Tô Văn K dùng điện thoại di động nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Lê Thành N1 để hỏi mượn xe mô tô N1 đem đi cầm lấy tiền tiêu xài thì N1 đồng ý, quá trình trao đổi về việc cầm xe N1 có gọi cho K để thoả thuận về việc cầm xe như sau: K cầm xe mô tô của N1 với giá 12.000.000 đồng, sau đó trích 7.000.000 đồng chuộc xe mô tô của K đang cầm cố ở tiệm đưa cho N1 làm phương tiện đi lại, K cho N1 1.000.000 đồng để tiêu xài ăn uống, quá trình thoả thuận N1 có nói với K “Có ma tuý rồi thì lấy đồ luôn đi (tức là mua ma tuý về sử dụng chung)”, K nghe vậy thì đồng ý và một lúc sau K nhắn tin lại cho N1: “Uhh... gọi g8 rồi” (tức là đặt một góc 8 ma tuý về sử dụng), rồi K nhắn tiếp là: “Không chơi hả, t hồi”, N1 trả lời “Thèm có đồ nghề luôn chưa”, “kkk thèm”, “kêu cái nồi luôn” (tức N1 kêu K tìm bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý). N1 và K dự định sẽ cùng nhau sử dụng ma tuý tại phòng trọ của K.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 26/9/2024, N1 điều khiển xe mô tô biển số 83P3 - 320.52 đến tiệm cầm đồ Bích Dư 2 tại địa chỉ: thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, tại đây N1 cầm xe mô tô được 12.000.000 đồng và yêu cầu chủ tiệm cầm đồ chuyển khoản số tiền 12.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng số [...] mang tên TO VAN KHANH mở tại Ngân hàng V của Tô Văn K. Sau khi nhận được tiền, K đi chuộc xe mô tô biển số 66H1 - 098.25, nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ đen bạc của K, rồi điều khiển xe đi đến khu vực nghĩa trang trên đường P gặp một người đàn ông tên thường gọi là D1 Khói mua 600.000 đồng ma tuý đá từ người này và được đưa 01 túi nylon hàn kín. Sau đó, K điều khiển xe mô tô về phòng trọ tại địa chỉ: số A, đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để cất giấu ma tuý rồi quay lại tiệm cầm đồ Bích Dư 2 để đón N1. Trên đường về nhà, K nói với N1 là “đã mua ma tuý rồi” nhưng do vợ K ở nhà và đang mang bầu nên cả K và N1 không tiếp tục sử dụng ma tuý tại phòng trọ K nữa, K chia ma tuý ra làm hai, một nửa đưa cho N1 và một nửa K cất giữ nhằm mục đích sử dụng sau. Khi đến trước hẻm vào phòng trọ K, K xuống xe và đưa tiền cho N1 nhờ mua cơm, còn K vào trong nhà để chia ma tuý. Sau khi mua cơm xong, N1 quay lại hẻm vào nhà trọ của K, K từ trong phòng trọ đi ra và đưa cho N1 túi nylon: bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa ma tuý, 01 nỏ thuỷ tinh, 01 ống hút nhựa, 01 kéo bằng kim loại, 01 dao lam đã qua sử dụng. Sau đó, N1 một mình đi đến thuê phòng số 101, tại nhà nghỉ H1, địa chỉ tại: số A, đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, N1 tự lắp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, đổ ma tuý K đưa vào trong nỏ, dùng hộp quẹt đốt nỏ để sử dụng ma tuý, số ma tuý còn lại trong túi nylon, N1 để trên bàn trong phòng nhà nghỉ.

Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, Công an phường D kiểm tra hành chính phòng 101 nhà nghỉ H1, phát hiện trong phòng N2 thuê, có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và một túi nylon miệng hở có chất tinh thể màu trắng khối lượng 0,0887 gam, N1 khai là ma tuý. Qua lấy lời khai, N1 khai nhận số ma tuý trên được K chia cho một nửa để mang đi sử dụng, đối với số ma tuý còn lại N1 không có ý định tiếp tục sử dụng ngay mà để cất giữ cho lần sử dụng sau..

Đến 07 giờ 30 phút sáng ngày 27/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiến hành khám xét phòng trọ của Tô Văn K tại địa chỉ: P, số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình khám xét thu giữ được 01 túi nylon miệng hở, bên trong chứa 0,1701 gam, tinh thể màu trắng (K khai là ma tuý) để hộp sắt cạnh bật lửa trên bàn sắt. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ban hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tô Văn K.

Tại Kết luận giám định số 553/KL-KTHS(MT) ngày 04/10/2023 của Phòng K3 Công an thành phố D kết luận: “Các mẫu tinh thể gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0887 gam (M1) thu giữ của Lê Thành N1; 0,1701 gam (M2) thu giữ của Tô Văn K”.

Ngày 30/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định trả tự do đối với Lê Thành N1.

Ngày 06/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cáo, Lệnh tạm giam đối với Tô Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án, bổ sung Quyết định khởi tố bị cáo đối với Tô Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và Quyết định khởi tố bị cáo, Lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với Lê Thành N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể ma tuý, màu trắng thu giữ tại nhà nghỉ H1; 01 gói nylong bên trong chứa chất tinh thể ma tuý, màu trắng thu giữ tại phòng của Tô Văn K; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 cây kéo bằng kim loại (loại kéo cắt vải); 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 gói nylon miệng hở bên trong chứa chất tinh thể ma tuý, màu trắng; 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A13, số Imei 1: 354690578030298, số Imei 2: 355864868030297, gắn sim số 0962869273 của Tô Văn K; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu trắng, số Imei: 355339085376344, gắn sim số 0902525910 của Lê Thành N1 và 01 xe mô tô biển số 66H1 - 098.25 màu đỏ, đen, bạc.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô biển số 66H1 - 098.25, màu đỏ, đen, bạc, nhãn hiệu Wave A mà Tô Văn K điều khiển để đi mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của ông Tô Văn N, ông N cho con trai là Tô Văn K, sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, việc K dùng xe mô tô trên để đi mua ma tuý, ông N hoàn toàn không biết. Ngày 09/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô trên cho ông Tô Văn N.

- Đối với 02 bì thư đã được Phòng K3 Công an tỉnh B niêm phong, ký hiệu 553/PC09, bên trong chứa 0,0528 gam; 0,1387 gam ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 cây kéo bằng kim loại (loại kéo cắt vải), 01 dao lam đã qua sử dụng. Đây là vật chứng của vụ án, liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại hiệu S A13 gắn sim số 0962869273 thu giữ của Tô Văn K và 01 điện thoại Iphone 7, màu trắng gắn sim số 0902525910 thu giữ của Lê Thành N1. Do liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị tịch thu điện thoại sung ngân sách Nhà nước và tiêu hủy các sim số điện thoại nêu trên.

- Đối với đối tượng tên Dũng K1 bán ma tuý cho bị cáo Tô Văn K, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực nghĩa trang trên đường P, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng không xác định được đối tượng có tên “Dũng Khói” đặc điểm như K mô tả nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Tại cáo trạng số: 296/CT-VKS-DA ngày 30 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tô Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Thành N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Văn K với mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 06 sáu tháng tù đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Tô Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thành N1 với mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 553M1/PC09 bên trong bì thư chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: M1=0,0528 gam; 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 553M1/PC09 bên trong bì thư chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: M2=0,1387 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa, ống hút nhựa, nỏ thuỷ tinh); 01 cái kéo bằng kim loại (loại kéo nhấp cắt vải); 01 con dao lam đã qua sử dụng và các sim số: 0962869273, 0902525910. Xét thấy, đây là vật cấm lưu hành và công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số Imei 1:354690578030293, số Imei 2: 355864868030297 thu giữ của Tô Văn K và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu trắng (bạc), số Imei: 355339085376344 thu giữ của Lê Thành N1. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo Tô Văn K và bị cáo Lê Thành N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Tô Văn K và bị cáo Lê Thành N1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

[2.1] Khoảng 16 giờ 55 phút ngày 26/9/2023, Tô Văn K nhắn tin cho Lê Thành N1 qua ứng dụng Zalo để hỏi mượn xe đi cầm, lấy tiền tiêu xài, trong quá trình trao đổi N1 đã khởi xướng lấy tiền từ việc cầm xe, mua ma tuý về để sử dụng chung và K đồng ý, cả hai dự định mua ma tuý về sử dụng tại phòng trọ của K. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhận được tiền cầm xe, K đi đến đường P gặp người đàn ông tên Dũng K1 mua 600.000 đồng ma tuý. Nhưng vì vợ K đang có thai nên không sử dụng ma túy tại phòng của K được nên K chia ma tuý ra làm hai, chuẩn bị sẵn nỏ thuỷ tinh, dao lam, kéo (để chế tạo dụng cụ sử dụng) đưa cho N1 sử dụng và phần còn lại cất giữ trong nhà sử dụng sau. N1 đem ma tuý K vừa chia và bộ dụng cụ sử dụng ma tuý K đưa đến Nhà nghỉ H1 để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 20 phút thì bị Công an phường D bắt quả tang hành vi tàng trữ 0,0887 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng sau. Đến 07 giờ 30 phút ngày 27/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét phòng trọ của K và thu giữ được 0,1701 gam ma tuý đang cất giấu tại phòng của K. Do số ma tuý trên có được từ tiền cầm xe mô tô của N1 để mua, N1 và K có thoả thuận thống nhất về việc mua ma tuý về sử dụng. Vì vậy, cả N1 và K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 02 gói ma tuý (tổng khối lượng là: 0,2588 gam loại Methamphetmine) thu giữ tại nhà nghỉ H1 và phòng trọ của Tô Văn K. Hành vi của các bị cáo tàng trữ ma túy có khối lượng 0,2588 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Ngoài hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” cùng với bị cáo Lê Thành N1 thì bị cáo Tô Văn K còn là người đi mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ sử dụng để sử dụng ma túy, chia ma tuý cho N1 để N1 đem ma tuý và bộ dụng cụ đến Nhà nghỉ H1 sử dụng một mình. Hành vi của bị cáo K cung cấp ma tuý, công cụ sử dụng trái phép chất ma tuý để Lê Thành N1 đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tô Văn K với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[6] Về nhân thân: các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 553M1/PC09 bên trong bì thư chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: M1=0,0528 gam; 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 553M1/PC09 bên trong bì thư chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: M2=0,1387 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa, ống hút nhựa, nỏ thuỷ tinh); 01 cái kéo bằng kim loại (loại kéo nhấp cắt vải); 01 con dao lam đã qua sử dụng và các sim số: 0962869273, 0902525910. Xét thấy, đây là vật cấm lưu hành và công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số Imei 1: 354690578030293, số Imei 2: 355864868030297 thu giữ của Tô Văn K và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu trắng (bạc), số Imei: 355339085376344 thu giữ của Lê Thành N1. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

[9] Án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tô Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Thành N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Văn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Tô Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2023.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thành N1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2024 (bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2023 đến ngày 30/9/2023).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) bì thư được Phòng K3 Công an tỉnh B niêm phong theo Kết luận giám định số 553/KL-KTHS(MT) ngày 04/10/2024. Bên ngoài bì thư có ghi ký hiệu 553M1/PC09, chữ ký của bên nhận Bùi Tuấn K2, người chứng kiến Lê Thành N1 bên giao Nguyễn Ngọc D2 cùng hình mộc dấu niêm phong của Phòng K3 Công an tỉnh B, bên trong bì thư chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: M1=0,0528 gam.
  • + 01 (một) bì thư được Phòng K3 Công an tỉnh B niêm phong theo Kết luận giám định số 553/KL-KTHS(MT) ngày 04/10/2024. Bên ngoài bì thư có ghi ký hiệu 553M1/PC09, chữ ký của bên nhận Bùi Tuấn K2, người chứng kiến Tô Văn K bên giao Nguyễn Ngọc D2 cùng hình mộc dấu niêm phong của Phòng K3 Công an tỉnh B, bên trong bì thư chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: M2=0,1387 gam.
  • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa, ống hút nhựa, nỏ thuỷ tinh), 01 cái kéo bằng kim loại (loại kéo nhấp cắt vải), 01 con dao lam đã qua sử dụng.
  • + Các sim số: 0962869273, 0902525910.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số Imei 1: 354690578030293, số Imei 2: 355864868030297 của Tô Văn K và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu trắng (bạc), số Imei: 355339085376344 của Lê Thành N1.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/9/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Tô Văn K và Lê Thành N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 291/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Văn K và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger