TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 291/2024/DS-ST Ngày: 16-9-2024 V/v tranh chấp hụi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 502/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 325/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Hồng D. Sinh năm: 1976. (Xin vắng)
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Trần Văn B. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà Dương Thùy T. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2024 của nguyên đơn thể hiện:
Từ khoảng năm 2021 đến năm 2023, ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T có tham gia nhiều dây hụi do bà Phan Hồng D làm chủ hụi. Sau khi hốt các phần hụi, ông B, bà T không đóng hụi đúng như thoả thuận. Đến ngày 10/5/2023, các bên chốt nợ lại, ông B, bà T còn nợ lại bà D số tiền 64.500.000 đồng và hứa sẽ thanh toán trong vòng 06 tháng nhưng ông B, bà T không thanh toán đúng hạn. Bà D yêu cầu ông B, bà T thanh toán cho bà D số tiền 64.500.000 đồng. Ngày 21/6/2024, bà D khởi kiện bổ sung yêu cầu ông B, bà T thanh toán thêm khoản tiền lãi 12.900.000 đồng.
Ngày 16/8/2024, bà D thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông B, bà T thanh toán cho bà D số tiền 64.500.000 đồng, yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt bà D.
Đối với ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập đến Toà án để giải quyết vụ án theo quy định nhưng ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Phan Hồng D với ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T là tranh chấp hụi. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện giao dịch đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của bà Phan Hồng D, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà D theo quy định.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo nguyên đơn, từ khoảng năm 2021 đến năm 2023, ông Trần Văn B và bà Dương Thùy T có tham gia nhiều dây hụi do bà Phan Hồng D làm chủ hụi. Sau khi hốt các phần hụi, ông B, bà T không đóng hụi đúng như thoả thuận. Đến ngày 10/5/2023, các bên chốt nợ lại, ông B, bà T còn nợ lại bà D số tiền 64.500.000 đồng và hứa sẽ thanh toán trong vòng 06 tháng nhưng ông B, bà T không thanh toán đúng hạn. Từ đó, bà D yêu cầu ông B, bà T thanh toán cho bà D số tiền 64.500.000 đồng.
Về phía bị đơn, Toà án đã thông báo, triệu tập theo quy định của pháp luật để bị đơn biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông B, bà T đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi, không có ý kiến gì khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn cũng có cung cấp giấy chốt nợ ngày 10/5/2023. Từ đó, có căn cứ xác định giao dịch giữa các bên được thực hiện như lời trình bày của nguyên đơn là có thật.
Ông B, bà T không thanh toán đúng thoả thuận nên bà D yêu cầu ông B, bà T thanh toán cho bà D số tiền hụi còn thiếu là phù hợp. Như vậy, ông B, bà T phải thanh toán cho bà D số tiền là 64.500.000 đồng.
[3] Về án phí: Ông Trần Văn B, bà Dương Thùy T có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho bà D nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bà D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ Điều 147, điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Hồng D. Buộc ông Trần Văn B, bà Dương Thùy T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Hồng D số tiền 64.500.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí: Ông Trần Văn B, bà Dương Thùy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.225.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), chưa nộp. Bà Phan Hồng D không phải chịu án phí, bà Phan Hồng D có nộp tạm ứng án phí sơ thẩm số tiền 1.613.000 đồng (Một triệu sáu trăm mười ba nghìn đồng) tại biên lai số 0005067 ngày 30 tháng 5 năm 2024 và số tiền 323.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) tại biên lai số 0005197 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được trả lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |
Bản án số 291/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 291/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hụi
