Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 291/2024/DS-ST

Ngày: 30-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

mua bán"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Trường Huân và ông Nguyễn Thiện Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 103/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 410/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 470/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1988 và bà Hồ Thị L1, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn S, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
  3. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 vắng mặt không rõ lý do; người làm chứng ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn B có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1 là chỗ hàng xóm gần nhà, không có quan hệ bà con gì. Từ tháng 11/2023 đến nay vợ chồng ông L, bà L1 có thỏa thuận mua ốc của ông B để vận chuyển cho các thương lái tại chợ B2, cụ thể như sau:

Từ tháng 11/2023 đến cuối năm 2023, ông B có vận chuyển cho vợ chồng ông L bà L1 nhiều chuyến ốc giao cho các thương lái tại chợ B2. Sau khi kết sổ thì vợ chồng ông L bà L1 còn nợ lại ông B số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng. Lúc này, ông L, bà L1 cho ông B biết hiện nay bà L1 phải đi trị bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh nên yêu cầu ông B tạm ngưng việc giao ốc. Ông B yêu cầu ông L, bà L1 thanh toán số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng thì ông L, bà L1 xin hẹn để đi trị bệnh xong về sẽ thanh toán. Do là chỗ quen biết nên ông B đã đồng ý. Việc mua bán không làm biên nhận.

Trong thời gian ông L, bà L1 điều trị bệnh. Vì sợ mất mối mua bán ốc nên mẹ của ông L, bà L1 tên là Nguyễn Thị T có yêu cầu ông B giao ốc để giao cho các mối của ông L, bà L1. Do đó, ông B đã đồng ý giao ốc cho mẹ ông L, bà L1 để giữ mối mua bán. Số tiền nợ mua bán ốc là 2.900.000 (hai triệu chín trăm nghìn) đồng. Việc mua bán cũng không làm biên nhận.

Đến đầu năm 2024, ông L, bà L1 yêu cầu ông B tiếp tục giao ốc để ông L, bà L1 giao cho các thương lái. Số tiền nợ của mẹ ông L, bà L1 sẽ tính chung vào số tiền nợ của ông L, bà L1. Do đó, ông B đã đồng ý tiếp tục giao ốc cho ông L và số tiền ông L, bà L1 nợ thêm là 39.006.100 (ba mươi chín triệu không trăm lẻ sáu nghìn một trăm) đồng, làm tròn 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng. Việc mua bán cũng không làm biên nhận.

Ông L, bà L1 xin hẹn lại vài ngày để ông L, bà L1 lo tiền trả cho ông B, do là chỗ quen biết nên ông B đã đồng ý. Tuy nhiên, ông L, bà L1 chỉ hứa hẹn, không thực hiện việc trả tiền cho ông B nên ông B làm đơn gửi Ban ấp A, xã K, huyện A xem xét giải quyết nhưng không thành.

Do đó, ông Nguyễn Văn B khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 có trách nhiệm liên đới trả số tiền 62.900.000 (sáu mươi hai triệu chín trăm nghìn) đồng mà ông L, bà L1 đã nợ của ông B khi mua bán ốc, ông B không yêu cầu tính lãi suất.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Nguyễn Văn Văn L và bà Hồ Thị L1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 15/7/2024 nhưng ông L và bà L1 đều vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông L, bà L1; ông L, bà L1 cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Ngày 12/7/2024, ông Nguyễn Văn B có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và sớm đưa vụ án ra xét xử, đồng thời có yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập do bận công việc làm ăn.

Ông Nguyễn Văn B có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 có trách nhiệm liên đới trả số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Tòa án cũng đã ban hành Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ số 779/2024/TB-TA ngày 16 tháng 7 năm 2024 và thông báo cho các đương sự trong vụ án biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

Tại phiên tòa, do ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1 cùng vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo bản tự khai ngày 12/7/2024, ông Lê Văn S cho biết: Ông S chỉ quen biết chứ không có quan hệ bà con gì với ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1, ông Nguyễn Văn B. Sự việc ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1 có giao dịch mua bán ốc với ông Nguyễn Văn B, sau đó ông L, bà L1 còn nợ tiền ông B thì ông S biết rõ, nhưng không rõ số tiền là bao nhiêu. Lý do ông S biết được là do ông S có đưa tiền cho ông B trả tiền ốc cho đầu mối để ông B lấy ốc giao cho ông L, bà L1. Tổng số tiền mà ông S đã đưa cho ông B mua ốc là 38.000.000 (ba mươi tám triệu) đồng. Bản thân ông S đã trực tiếp đến nhà ông L, bà L1 tại địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang để yêu cầu ông L, bà L1 phải trả tiền cho ông B, để ông B gửi trả tiền lại cho ông S. Ông L, bà L1 có hứa hẹn sẽ trả tiền cho ông B. Ông S xác định việc ông B kiện ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1 không liên quan đến ông S. Ông S yêu cầu không tham gia tố tụng trong vụ án này và yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập do sức khỏe ông S không đảm bảo tham gia tố tụng.

Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 15/7/2024, ông Nguyễn Văn B cho biết: Ông Nguyễn Văn B hiện là Trưởng ban Mặt trận ấp A, xã K, huyện A. Ông B không có quan hệ bà con gì với ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1, ông Nguyễn Văn B. Cả ông B, ông L, bà L1 đều là người địa phương và thường xuyên sinh sống tại ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. Ông B có nghề nghiệp là bốc vác công đoàn, giao thủy hải sản để lấy tiền lời. Ông L, bà L1 có nghề nghiệp là mua bán ốc. Do có mâu thuẫn và tranh chấp trong việc mua bán ốc đồng nên ông B có gửi đơn đến Ban ấp A, xã K để yêu cầu giải quyết tranh chấp. Ngày 25/4/2024, B1 ấp A có mời ông B và ông L đến để ghi nhận ý kiến, ông Nguyễn Văn B đã trực tiếp hòa giải và ghi nhận ý kiến của ông L, ông L có thừa nhận việc vợ ông L là bà Hồ Thị L1 có mua bán ốc với ông B và còn nợ lại số tiền 62.299.000 (Sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín ngàn) đồng, ông L cũng xin được trả dần số tiền còn nợ lại. Tuy nhiên, sau khi đọc lại biên bản thì ông L không đồng ý ký tên mà không nêu rõ lý do.

Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 17/7/2024, bà Nguyễn Thị T cho biết: Bà T là mẹ ruột của ông Nguyễn Văn L, bà Hồ Thị L1 là vợ của ông L. Ông L, bà L1 chung sống cùng bà T tại địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. Ông L, bà L1 do làm ăn thua lỗ, nợ nần nên hiện đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà nhưng vẫn thường xuyên giữ liên lạc với gia đình. Bà T có nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án và có thông báo cho ông L, bà L1 biết nhưng do bận công việc làm ăn nên không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng. Sự việc ông L, bà L1 có làm ăn, mua bán ốc đồng với ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1989 thì bà T xác nhận là có, ông L, bà L1 có nợ lại ông B tiền mua ốc nhưng không rõ số tiền cụ thể là bao nhiêu. Bà T yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập do nhà xa, bận công việc mua bán.

Theo bản sao Trích lục kết hôn số 497/TLKH-BS ngày 17/7/2024 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, bà Hồ Thị L1, sinh ngày 10/9/1986 và ông Nguyễn Văn L, sinh ngày 16/3/1988 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 26/3/2018.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, buộc ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng, do ông B không có yêu cầu tính lãi nên đề nghị không xem xét. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 601.000 (sáu trăm lẻ một nghìn) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện, ông Nguyễn Văn B khởi kiện yêu cầu ông ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải có nghiã vụ liên đới hoàn trả số tiền mua bán ốc còn nợ lại, cả hai đều không có đăng ký kinh doanh nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán”, là tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 cùng cư trú tại: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự

[1.2] Về thời hiệu: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, nên xác định vụ việc còn trong thời hiệu khởi kiện

[1.3] Về năm sinh và nơi cư trú của bị đơn: Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, ông Nguyễn Văn B xác định bà Hồ Thị L1, sinh năm 1989. Tuy nhiên, theo bản sao Trích lục kết hôn số 497/TLKH-BS ngày 17/7/2024 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, bà Hồ Thị L1, sinh ngày 10/9/1986. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại năm sinh của bà Hồ Thị L1 là sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

[1.4] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về đánh giá chứng cứ:

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 không giao nộp văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông L, bà L1 chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Văn B giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Về nội dung tranh chấp:

[2.2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng còn nợ lại do mua bán ốc đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Những người làm chứng ông Lê Văn S, bà Lê Thị T1, ông Nguyễn Văn B đều xác nhận có sự việc mua bán ốc đồng giữa ông B và ông L, bà L1 và việc ông L, bà L1 còn nợ ông B tiền mua bán ốc. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 cũng xác nhận ông L có thừa nhận còn nợ ông B số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng tại Ban ấp A, xã K. Ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 biết được sự việc ông B khởi kiện và không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của ông B. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 còn nợ ông Nguyễn Văn B số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng tiền mua bán ốc là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Giao dịch dân sự mua bán ốc đồng giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp và được điều chỉnh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì ông L, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ mua bán ốc là có căn cứ và hợp pháp.

[2.2.2] Đối với lãi suất: Ông Nguyễn Văn B không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.2.3] Bà Hồ Thị L1 và ông Nguyễn Văn L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 26/3/2018. Do đó, ông L và bà L1 phải chịu trách nhiệm liên đới của vợ, chồng theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, buộc ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng theo quy định tại các Điều 357, Điều 430, Điều 434, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.4] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 601.000 (sáu trăm lẻ một nghìn) đồng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về án phí:

Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Văn B. Ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[5] Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 357, 430, 434, 440 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 70, 72, 91, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 217, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B.
    1. Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 62.299.000 (sáu mươi hai triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng cho ông Nguyễn Văn B.
    2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 601.000 (sáu trăm lẻ một nghìn) đồng.
  3. Về án phí:
    1. Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông B số tiền 1.572.000 (một triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009534 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
    2. Ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 phải chịu 3.114.950 (ba triệu một trăm mười bốn nghìn chín trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị L1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 (7a, 7b) và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện An Phú (1);
  • - THADS huyện An Phú (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 291/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn Bal và ông Nguyễn Văn Lượm, bà Hồ Thị Lan là chỗ hàng xóm gần nhà, không có quan hệ bà con gì. Từ tháng 11/2023 đến nay vợ chồng ông Lượm, bà Lan có thỏa thuận mua ốc của ông Bal để vận chuyển cho các thương lái tại chợ Bình Điền, cụ thể như sau: Từ tháng 11/2023 đến cuối năm 2023, ông Bal có vận chuyển cho vợ chồng ông Lượm bà Lan nhiều chuyến ốc giao cho các thương lái tại chợ Bình Điền. Sau khi kết sổ thì vợ chồng ông Lượm bà Lan còn nợ lại ông Bal số tiền 21.000.000 (hai mươi một triệu) đồng. Lúc này, ông Lượm, bà Lan cho ông Bal biết hiện nay bà Lan phải đi trị bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh nên yêu cầu ông Bal tạm ngưng việc giao ốc. Ông Bal yêu cầu ông Lượm, bà Lan thanh toán số tiền 21.000.000 (hai mươi một triệu) đồng thì ông Lượm, bà Lan xin hẹn để đi trị bệnh xong về sẽ thanh toán. Do là chỗ quen biết nên ông Bal đã đồng ý. Việc mua bán không làm biên nhận. Trong thời gian ông Lượm, bà Lan điều trị bệnh. Vì sợ mất mối mua bán ốc nên mẹ của ông Lượm, bà Lan tên là Nguyễn Thị Tuyết có yêu cầu ông Bal giao ốc để giao cho các mối của ông Lượm, bà Lan. Do đó, ông Bal đã đồng ý giao ốc cho mẹ ông Lượm, bà Lan để giữ mối mua bán. Số tiền nợ mua bán ốc là 2.900.000 (hai triệu chín trăm nghìn) đồng. Việc mua bán cũng không làm biên nhận. Đến đầu năm 2024, ông Lượm, bà Lan yêu cầu ông Bal tiếp tục giao ốc để ông Lượm, bà Lan giao cho các thương lái. Số tiền nợ của mẹ ông Lượm, bà Lan sẽ tính chung vào số tiền nợ của ông Lượm, bà Lan. Do đó, ông Bal đã đồng ý tiếp tục giao ốc cho ông Lượm và số tiền ông Lượm, bà Lan nợ thêm là 39.006.100 (ba mươi chín triệu không trăm lẻ sáu nghìn một trăm) đồng, làm tròn 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng. Việc mua bán cũng không làm biên nhận. Ông Lượm, bà Lan xin hẹn lại vài ngày để ông Lượm, bà Lan lo tiền trả cho ông Bal, do là chỗ quen biết nên ông Bal đã đồng ý. Tuy nhiên, ông Lượm, bà Lan chỉ hứa hẹn, không thực hiện việc trả tiền cho ông Bal nên ông Bal làm đơn gửi Ban ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú xem xét giải quyết nhưng không thành. Do đó, ông Nguyễn Văn Bal khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Lượm và bà Hồ Thị Lan có trách nhiệm liên đới trả số tiền 62.900.000 (sáu mươi hai triệu chín trăm nghìn) đồng mà ông Lượm, bà Lan đã nợ của ông Bal khi mua bán ốc, ông Bal không yêu cầu tính lãi suất.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger