|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 291/2023/HS-ST Ngày: 20-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Bảo
Ông Đoàn Hồng Hải
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 278/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành T, sinh năm 1986 tại: tỉnh Hà Nam; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thị Q; có vợ đã ly hôn, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 22-5-2018 Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 12-9-2017 Công an huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-8-2023, chuyển tạm giam từ ngày 01-9-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Ông Trần Phi L.
Ông Phạm Như B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 22-8-2023, tổ công tác Công an phường V, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà B ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện thấy Nguyễn Thành T đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F9-6058 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Thành T đã thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Nguyễn Thành T khai là 01 gói Heroine vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa Nguyễn Thành T về trụ sở Công an phường V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Thành T 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-6058 đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Nguyễn Thành T. Tại Bản kết luận giám định số 1308/KL-KTHS ngày 28-8-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng, trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Nguyễn Thành T, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,479 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành T khai nhận như sau: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 22-8-2023, Nguyễn Thành T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F9-6058 đi một mình từ nhà đến ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Nguyễn Thành T gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Thành T cầm gói ma túy trong tay trái, điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi Nguyễn Thành T đi ra đến khu vực trước cửa số nhà B ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 296/CT-VKS-TPNĐ ngày 06-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Thành T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành T. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành T 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng đã cũ và chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-6058 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành T nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thành T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định số 1308/KL-KTHS ngày 28-8-2023 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 22-8-2023, tại khu vực trước cửa số nhà B ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Nguyễn Thành T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,479 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,479 gam. Vì vậy bị cáo Nguyễn Thành T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thành T tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành T là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã cũ là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thành T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-6058 bị cáo T đã mua lại của ông Trần Văn Đ, sinh năm 1983, nơi cư trú: xóm A, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định nhưng chưa sang tên chính chủ cho bị cáo. Khi bị cáo mua xe có đăng ký xe nhưng trong quá trình sinh hoạt, bị cáo đã làm mất đăng ký xe nên xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật
[8] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thành T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 2 năm 6 tháng tù (hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 23-8-2023.
2. Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1308/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) chiếc điện thoại di động màu trắng, mặt sau có chữ Iphone, đã cũ, không kiểm tra chất lượng máy, và chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-6058 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13-11-2023).
3. Án phí:
- - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Thành T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Thành T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 291/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 291/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
