Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 291/2024/HS-ST

Ngày 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Văn Quý
2. Bà Hoàng Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 310/2024/ HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 326/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị N; Sinh năm 2000; Giới tính: Nữ; ĐKNKTT và chỗ ở: S Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1969; Chồng: Nguyễn Đình M, sinh năm 1987; Có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)

  2. Lê Văn T1; Sinh năm 1989; Giới tính: Nam; ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Lê Văn M1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Vợ Nguyễn Thị N1, sinh năm 1997; Có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07h00 ngày 09/4/2024, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ, tiến hành kiểm tra tại số nhà I Đ, phường Đ, thành phố T. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có: Nguyễn Thị N (vợ Mão); Nguyễn Đình M, sinh năm 1987 (cùng trú tại số I Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); Nguyễn Thị N1, sinh năm 1997 và Lê Văn T1, chồng N1 (Cùng trú tại Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, Tỉnh Thanh Hóa)

Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ: 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (cố định 02 đầu bằng 02 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá); 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm; 01 loa điện từ mi ni; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x5)cm; 01 thẻ giấy hình chữ nhật kích thước khoảng (6x9)cm, trên bề mặt có ghi “Đạt Hair”. Nguyễn Đình M, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N1 và Lê Văn T1 khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý trước khi Công an đến kiểm tra; Các đồ vật Công an thu giữ (nêu trên) là dụng cụ N, T1, N1, M dùng để sử dụng ma túy và vỏ bao gói đựng ma túy.

Tổ công tác đã đưa M, N, T1 và N1 cùng tang vật về trụ sở để lập biên bản và tets ma túy trong cơ thể. Xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Đình M, Nguyễn Thị N và Lê Văn T1 đều có kết quả dương tính với ma túy loại MDMA và K; Nguyễn Thị N1 kết quả dương tính với ma túy loại MDMA.

Tại Bản kết luận giám định số 1548/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng K1 Công an Tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại MDMA, Ketamine trong các mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Đình M, Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 và Nguyễn Thị N1.

Về nguồn gốc ma túy bị cáo N khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 01 giờ sáng ngày 09/04/2024, N một mình đi đến đoạn đường đất trong khu vực Hồ T (thuộc địa phận phường T, thành phố T) mua được của một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) một túi 03 (ba) viên thuốc lắc và một túi Ketamine với giá 2.000.000₫ sau đó N mang về nhà rủ Nguyễn Đình M cùng sử dụng. N thì sử dụng 01 viên thuốc lắc bằng cách uống với nước lọc và đưa cho M 01 viên thuốc lắc để sử dụng. 01 viên thuốc lắc còn lại N để trong túi ni lon và cất ở kệ kính cạnh cửa nhà tắm; Túi K cất trong phòng ngủ, sau đó N ra ghế ở phòng khách nằm ngủ với Mão.

Khoảng 02 giờ ngày 09/4/2024, Nguyễn Thị N1 (chị gái N) và Lê Văn T1 (chồng của N1) đến, N ra mở cửa cho N1 và T1 vào nhà. N1 đi vào phòng ngủ nằm còn T1 đứng ở phòng khách nói chuyện với N (lúc này M vẫn nằm ngủ trên ghế). N nói với T1 đang để 01 viên thuốc lắc ở kệ kính cạnh cửa nhà tắm, bảo T1 lấy sử dụng. T1 đi ra nhà tắm lấy túi nilon đựng viên thuốc lắc mang vào phòng khách, T1 bẻ đôi viên thuốc lắc, sử dụng 1 nửa, nửa còn lại mang vào phòng ngủ đưa cho N1 sử dụng rồi T1 và N1 lên giường nằm ngủ. Sau đó N và M cũng đi vào phòng nằm ngủ cùng N1 và T1.

Khoảng 03 giờ cùng ngày N gọi T1 dậy rủ T1 sử dụng ma túy Ketamine, N bảo T1 đi lấy đĩa đốt nóng để “xào” (nghiền) Ketamine và tìm 2 cái đầu lọc thuốc lá làm ống hút để sử dụng Ketamine. T1 đi ra giá để bát lấy 1 đĩa sứ hình tròn màu trắng, bật bếp ga hơ cho đĩa nóng và ra bàn uống nước phòng khách, xé lấy 02 vỏ đầu lọc thuốc lá mang vào phòng ngủ. N đưa cho T1 một tờ tiền mệnh giá 100.000đ, T1 cuộn tròn tờ tiền và cố định 2 đầu bằng 2 vỏ đầu lọc thuốc lá làm thành 01 ống hút để hít Ketamine sau đó đưa lại cho N rồi tiếp tục nằm ngủ. N đổ hết Ketamine trong túi nilon ra đĩa, dùng chiếc thẻ giấy cứng nghiền, miết Ketamine thành bột mịn rồi kẻ chia thành các luống nhỏ. Sau đó N gọi Mão dậy để M sử dụng. Mão sử dụng ống hút dùng mũi hít hết 1 luống Ketamine rồi tiếp tục nằm ngủ. Tiếp theo N gọi T1 dậy sử dụng, N cầm đĩa Ketamine đưa trước mặt cho T1 sử dụng ống hút dùng mũi hít hết 1 luồng Ketamine rồi nằm ngủ tiếp. Sau đó N sử dụng hết số Ketamine còn lại.

Quá trình sử dụng Ketamine thì N đã bật nhạc từ điện thoại Iphone 14 Promax của N, kết nối với loa điện tử để mọi người cùng nghe. Sau khi sử dụng ma túy xong N đi rửa đĩa rồi vào nằm ngủ cùng mọi người. Đến 07 giờ ngày 09/4/2024 thì công an TPTH và Công an phường Đ kiểm tra phát hiện và thu giữ vật chứng

Vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi án dân sự thành phố T gồm: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền tiền mệnh giá 100.000đ, được cố định 02 đầu bằng 2 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm; 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (3x5)cm; 01 loa điện tử mini; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 thẻ giấy bọc bên ngoài bằng lớp nilon hình chữ nhật trên mặt thẻ có ghi " Đạt Hair".

Quá trình điều tra, các bị cáo N, T1 đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của N1, M và chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Đình M và Nguyễn Thị N1 là người đã sử dụng ma túy cùng với Nguyễn Thị N và Lê Văn T1, song việc N cất giữ ma túy trong nhà để sử dụng, Mão và N1 không biết, không được bàn bạc trước. Quá trình sử dụng ma túy, M và N1 không tham gia chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, vì vậy không có cơ sở để xử lý Mão và N1 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình M và Nguyễn Thị N1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/ND-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Nguyễn Thị N1, tại Kết luận giám định của Phòng K1 Công an Tỉnh T kết luận tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong nước tiểu của Nguyễn Thị N1. Song kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Thị N1 là dương tính với chất ma túy MDMA; Mặt khác, quá trình điều tra Nguyễn Thị N1 và các đối tượng N, T1, M đều khai N1 chỉ sử dụng ma túy loại MDMA, không sử dụng Ketamine. Vì vậy không đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Thị N1 sử dụng ma túy loại Ketamine.

Đối với người nam giới bán ma túy cho Nguyễn Thị N tại khu vực Hồ T, phường T, thành phố T. Cơ quan điều tra đã rà soát, xác minh nhưng không xác định được danh tính người đàn ông có đặc điểm như N mô tả, nên không có cơ sở xử lý.

Về căn nhà 0 Đ, phường Đ, TP. là nhà của bố mẹ M (đã chết) hiện vợ chồng N, Mão quản lý sử dụng do đó không xử lý.

Tại Cáo trạng số 237/CTr-VKSTP ngày 23/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 - của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo N); áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 - của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo T1); Tuyên bố Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Xử phạt Nguyễn Thị N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ 12 ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Xử phạt Lê Văn T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Vật chứng vụ án: áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy gồm: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước gồm: 01 điện thoại Iphone ProMax, 01 tờ tiền 100.000đ; 01 loa điện tử màu đen. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Căn cứ hành vi của các bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Vào 03 giờ 00 phút, ngày 09/4/2024, tại số nhà I Đ, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho N, T1, M và N1. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố các bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi, sử dụng chất ma túy; Làm suy giảm sức khỏe con người; Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Đều có tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”, “Đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51- Bộ luật hình sự; Bị cáo N đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, do đó được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo có nhân thân tốt. Vì vậy HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt, đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên cần cách li bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian đề giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và đề phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò đồng phạm: Vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm. Trong đó, N là người rủ rê, là người trực tiếp mua ma túy, đưa thuốc lắc cho M, T1 và bản thân sử dụng; N cũng là người trực tiếp kết nối điện thọai với loa để nghe nhạc khi sử dụng ma túy, “xào” Ketamine cho T1, M và N cùng sử dụng. Vì vậy N giữ vai trò đầu, chịu trách nhiệm cao hơn T1; T1 là người chuẩn bị công cụ (lấy đĩa sứ hơ nóng để N “xào ke”; cuộn tờ tiền thành ống hút để dùng hít ma túy) T1 giữ vai trò thứ hai, chịu trách nhiệm sau N. Tuy nhiên N có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn T1 do đó mức hình phạt áp dụng cho N và T1 ngang nhau.

[5] Đối với Nguyễn Đình M và Nguyễn Thị N1 là người đã sử dụng ma túy cùng với Nguyễn Thị N và Lê Văn T1, song việc N mua ma túy cất giữ trong nhà để sử dụng, Mão và N1 không biết, không có đóng góp, bàn bạc gì; Quá trình sử dụng ma túy, M và N1 không tham gia chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, vì vậy Mão và N1 không có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình M và Nguyễn Thị N1 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính đối với Mão và N1 là đúng quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/ND-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

[7] Đối với người nam giới bán ma túy cho N tại khu vực Hồ T, phường T, thành phố T, Cơ quan điều tra đã rà soát, xác minh nhưng không xác định được danh tính người này, nên không có cơ sở xử lý là đúng pháp luật.

[8] Vật chứng vụ án: 01 loa điện tử mini; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 tờ tiền tiền mệnh giá 100.000đ các bị cáo cuộn làm ống hít ma túy, đây là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước; 02 túi nilon màu trắng dùng đựng ma túy; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 thẻ giấy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 - BLTTHS.

[9] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[10] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Nguyễn Thị N)

- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Lê Văn T1)

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ 09 ngày (từ ngày 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2024

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 loa điện tử mini; 01 điện thoại di động, màu tím đậm; 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền Polyme 100.000đ; Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 túi nilon màu trắng kích thước (2 x2)cm và (3x5)cm; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ bằng giấy, bề mặt có ghi dòng chữ “Đạt Hair”. Toàn bộ vật chứng đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” số 190/2024/THA ngày 26/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Thanh Hóa;
  • - Công an thành phố thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 291/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn thị N và đồng phạm (Tổ chức sử dụng MT)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger