|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 291/2024/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2024 V/v Tranh chấp thừa kế và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 636/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1260/2024/QĐPT-HC ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim M, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Kim M: ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1969; nơi cư trú: số A A, đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (ủy quyền ngày 14/4/2022, có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1951 (chết ngày 15/12/2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ:
- Bà Mai Kim C, sinh năm 1954; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Mai Kim C: ông Lưu Thanh P, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số A, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (ủy quyền ngày 28/02/2023, có mặt).
- Chị Lê Hồng H, sinh năm 1988 (có mặt);
- Chị Lê Hồng T1, sinh năm 1991 (có mặt);
- Anh Lê Quốc Đ1, sinh năm 1992;
Người đại diện hợp pháp của anh Đ1: bà Mai Kim C, sinh năm 1954 (ủy quyền ngày 06/02/2023, có mặt).
- Anh Lê Quốc Đ2, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Cùng nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Mai Kim C, sinh năm 1954; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn T2, sinh năm 1948;
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Văn T2: Chị Nguyễn Thị Hồng C1, sinh năm 1977; Cùng nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (ủy quyền ngày 23/5/2023, vắng mặt)
- Bà Lê Thị G, sinh năm 1954; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Lê Văn T3, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số A W, GA 30165 USA.
- Bà Lê Thị M1, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt)
- Bà Lê Cẩm T4, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Lê Thị P1, sinh năm 1971; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962;
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1989;
- Chị Nguyễn Thị Mỹ T5, sinh năm 1985;
- Chị Nguyễn Thị Kim T6, sinh năm 1998;
Cùng nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Chị Nguyễn Thị P2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số A Eastover Dr Apt C Mount P, USA.
- Anh Lê Quốc Đ2, sinh năm 1981;
- Chị Phạm Thị Kiều D, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bà Mai Kim C, sinh năm 1954; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Anh Lê Thành T7, sinh năm 1968;
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh năm 1969;
- Chị Nguyễn Thị Hồng C1, sinh năm 1977
- Anh Lê Quang V1, sinh năm 1974;
Người đại diện hợp pháp của anh Lê Quang V1: chị Nguyễn Thị Hồng C1, sinh năm 1977 (ủy quyền ngày 11/5/2023)
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị G, ông Lê Văn T3, bà Lê Thị M1, bà Lê Cẩm T4, bà Lê Thị P1, ông Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Kim T6, chị Nguyễn Thị P2: bà Lê Thị Kim M, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (ủy quyền ngày 25/7/2022, ngày 26/7/2022, ngày 18/5/2022, ngày 07/6/2022 và ngày 02/8/2022, vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Lê Văn T2, sinh năm 1948;
- Người kháng cáo: Bà Mai Kim C – người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/10/2022 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Kim M và bà M đại diện cho bà Lê Thị G, ông Lê Văn T3, bà Lê Thị M1, bà Lê Cẩm T4, bà Lê Thị P1, ông Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Kim T6, chị Nguyễn Thị P2 trình bày:
Ông Lê Văn H2 (chết ngày 10/9/2015) và bà Trần Thị C2 (chết ngày 02/3/2014) là vợ chồng, ông bà có tất cả 09 người con bao gồm: ông Lê Văn T2, ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T3, bà Lê Thị M1, bà Lê Cẩm T4, bà Lê Thị P1, bà Lê Thị Kim M và bà Lê Thị R (chết ngày 17/5/1998) có chồng là ông Nguyễn Văn V, bà R và ông V có 4 người con là anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Kim T6 và chị Nguyễn Thị P2, ngoài 09 người con này thì ông bà không còn người con nào khác. Ông Đ chết ngày 15/12/2022, ông Đ có hai người vợ, người vợ thứ nhất tên Nguyễn Thị T8 (chết ngày 15/6/1981), ông Đ và bà T8 có một con chung là anh Lê Quốc Đ2, vợ thứ hai tên Mai Kim C, ông Đ và bà C có 3 người con là chị Lê Hồng H, chị Lê Hồng T1 và anh Lê Quốc Đ1.
Khi ông H2 và bà C2 chết có để lại di chúc chung của vợ chồng ngày 29/09/2010 có nội dung để lại di sản thừa kế cho cháu nội là anh Lê Quốc Đ2 (con ông Lê Văn Đ) toàn bộ đất vườn và nhà ở có diện tích 6.770 m² thuộc thửa 1298, diện tích 22.270 m² đất ruộng thuộc thửa 1309, diện tích 690m² đất ruộng thuộc thửa 1032 nên các anh chị em sẽ tự nguyện tặng cho lại anh Đ2 phần di sản thừa kế mà họ được hưởng nếu yêu cầu chia thừa kế được chấp nhận để anh Đ2 dùng vào việc thờ cúng ông bà.
Di sản thừa kế của ông H2 và bà C2 là phần đất diện tích 6.770 m² đất vườn thuộc thửa 1298 (thửa mới 81 diện tích 6.841,4m²) do anh Đ2 quản lý sử dụng, trên đất có cây trồng và một căn nhà tường của ông H2 và bà C2; diện tích 22.270m² đất ruộng thuộc thửa 1309 (trong đó thửa mới 109 diện tích 5.088,4m² do anh V1 quản lý + thửa mới 204 diện tích 6.297,7m² do bà C quản lý + thửa mới 127-1+127-2 diện tích 10.332,6m² do anh Đ2 quản lý), diện tích 690m² đất ruộng thuộc thửa 1302 (thửa mới 184 diện tích 764,7m²) do anh T7 quản lý, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn H2 đứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 23/3/1991, nguồn gốc các thửa đất là của ông bà để lại cho ông H2.
Sau khi ông H2 và bà C2 chết thì bà M gặp ông Đ đề nghị chia thừa kế phần đất do cha mẹ để lại nhưng ông Đ không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bà M làm thủ tục thừa kế. Đến năm 2021 bà M tìm hiểu mới biết các thửa đất nói trên đã sang tên ông Lê Văn Đ vào ngày 02/5/2008 bằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất 1298, 1309, 1302 được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T chứng thực ngày 18/4/2008, nhưng chữ viết và chữ ký tên ông Lê Văn H2 trong hợp đồng không phải do ông H2 ký tên và viết họ tên mà do ông Đ giả tạo.
Nay bà M khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được lập ngày 18/4/2008 giữa ông Lê Văn H2 và anh Lê Văn Đ. Yêu cầu chia di sản thừa kế của ông H2 và bà C2 đối với thửa đất 1298, 1309, 1302. Bà M đại diện các anh em của bà là bà Lê Thị G, ông Lê Văn T3, bà Lê Thị M1, bà Lê Cẩm T4, bà Lê Thị P1 và thừa kế thế vị của bà R là anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Kim T6, chị Nguyễn Thị P2 tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế của họ được hưởng cho bà M nên bà M yêu cầu chia di sản thừa kế cho bà M được hưởng phần đất do anh Đ2 đang quản lý diện tích 4.339,2m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 127-1); diện tích 5.993,4m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 127-2) và diện tích 6.841,4m² thuộc thửa 1298 (thửa mới 81), sau đó bà M tự nguyện tặng cho anh Đ2 toàn bộ phần đất này để anh Đ2 dùng vào việc thờ cúng, anh Đ2 được quyền kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 127, còn thửa 81 thì anh Đ2 và bà M đứng tên chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà M đồng ý chia thừa kế cho ông Đ phần đất có diện tích 6.297,7m² thuộc thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 204) hiện do bà C đang quản lý.
Bà M đồng ý giao cho anh T7 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 764,7m² thuộc thửa 1302 (thửa mới 184) do anh T7 đang quản lý, đồng ý giao cho anh V1 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 5.088,4m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 109) do anh V1 đang quản lý và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà M không đồng ý yêu cầu phản tố của bà C, đồng ý yêu cầu độc lập của anh Đ2 và anh T7. Bà M không tranh chấp cây trồng và căn nhà của ông H2 và bà C2 trên thửa đất 81, ai nhận phần đất có gắn cây trồng và căn nhà trên đất thì được quyền sử dụng hợp pháp cây trồng và căn nhà trên đất.* Tại đơn phản tố ngày 18/5/2023 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ là bà Mai Kim C và bà C đại diện cho anh Đ1 trình bày: Ông Lê Văn H2 (chết ngày 10/9/2015) và bà Trần Thị C2 (chết ngày 02/3/2014) là vợ chồng, ông bà có tất cả 09 người con chung, Ông Đ có hai vợ, vợ thứ nhất đã chết và bốn người con như lời trình bày của bà M. Nguồn gốc phần đất tranh chấp 6.770 m² đất vườn thuộc thửa 1298 (thửa mới 81 diện tích 6.841.4m²) do anh Đ2 quản lý sử dụng, trên đất có cây trồng và một căn nhà tường của ông H2 và bà C2; diện tích 22.270m² đất ruộng thuộc thửa 1309 ( trong đó thửa mới 109 diện tích 5.088,4m² do anh V1 quản lý + thửa mới 204 diện tích 6.297,7m² do bà C quản lý trồng cam + thửa mới 127 diện tích 10.332,6m² do anh Đ2 và ông Đ quản lý đã cho bà M thuê đất trồng cam), diện tích 690m² đất ruộng thuộc thửa 1302 (thửa mới 184 diện tích 764,7m²) do anh T7 quản lý, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là của ông Lê Văn H2 và bà Trần Thị Châu t cho ông Đ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/4/2008 được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T chứng thực ngày 18/4/ 2008, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T chỉnh lý trang 4 tên Lê Văn Đ ngày 02/5/2008. Bà C không giữ bản gốc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/4/2008, bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà C nộp cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T theo chương trình đo đạc Vlap. Bà C thì sống ở bên cha mẹ ruột của bà C, còn ông Đ sống chung nhà với anh Đ2 để chăm sóc ông H2, bà C2. Bà C đồng ý giao cho anh T7 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất 764,7m² thuộc thửa mới 184 do anh T7 đang quản lý sử dụng; giao cho anh V1 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất 5.088,4m² thuộc thửa mới 109 do anh V1 đang quản lý, sử dụng.
Bà C yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của ông Đ cho bà C nhận diện tích đất 3.622,5m² thuộc thửa mới 81, diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 và diện tích 5.993,4m² thuộc thửa mới 127. Phần đất 5.993,4m² thửa mới 127 ông Đ cho bà M thuê thì khi nào hết hạn thuê đất bà M sẽ trả lại cho bà C, không yêu cầu giải quyết hợp đồng thuê đất trong vụ án này; đồng ý giao cho anh Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 3.218,9m² gắn liền căn nhà cấp 4 thuộc thửa 1298 (thửa mới 81) và diện tích 4.339,2m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 127). Bà C không tranh chấp cây trồng và căn nhà của ông H2 và bà C2 trên thửa đất 81, ai nhận phần đất có gắn cây trồng và căn nhà trên đất thì được quyền sử dụng hợp pháp cây trồng và căn nhà trên đất. Bà C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà M và yêu cầu độc lập của anh Đ2, đồng ý yêu cầu độc lập của anh T7.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ là chị Lê Hồng H, và chị Lê Hồng T1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của bà C, đồng ý giao cho bà C được quyền sử dụng hợp pháp các thửa đất theo yêu cầu phản tố của bà C, không có yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ là anh Lê Quốc Đ2 trình bày: Anh Đ2 thống nhất với lời trình bày của bà M về việc ông Lê Văn H2 và bà Trần Thị C2 là vợ chồng, ông bà có tất cả 09 người con chung, ông Đ có hai vợ và bốn người con, về nguồn gốc phần đất tranh chấp. Di sản thừa kế của ông H2 và bà C2 là phần đất diện tích 6.770 m² đất vườn thuộc thửa 1298 (thửa mới 81 diện tích 6.841.4m²) do anh Đ2 quản lý sử dụng, trên đất có cây trồng và một căn nhà tường của ông H2 và bà C2; diện tích 22.270m² đất ruộng thuộc thửa 1309 ( trong đó thửa mới 109 diện tích 5.088,4m² do anh V1 quản lý + thửa mới 204 diện tích 6.297,7m² do bà C quản lý + thửa mới 127 diện tích 10.332,6m² do anh Đ2 quản lý), diện tích 690m² đất ruộng thuộc thửa 1302 (thửa mới 184 diện tích 764,7m²) do anh T7 quản lý, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
Sau khi anh Đ2 được sinh ra thì mẹ ruột của anh Đ2 chết nên anh Đ2 sống chung với cha và ông, bà nội. Ông H2 và bà C2 chết có để lại di chúc ngày 29/09/2010 có nội dung để lại di sản thừa kế cho anh Đ2 toàn bộ đất vườn và nhà ở có diện tích 6.770 m² thuộc thửa 1298, diện tích 22.270 m² đất ruộng thuộc thửa 1309, diện tích 690m² đất ruộng thuộc thửa 1032. Tuy nhiên các cô, chú, bác của anh Đ2 đồng ý giao toàn bộ tài sản của ông H2 và bà C2 cho anh Đ2 quản lý dùng vào việc thờ cúng nếu yêu cầu của bà M được chấp nhận nên anh Đ2 không yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp mà chỉ yêu cầu Tòa án công nhận cho anh Đ2 được quyền quản lý và sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 4.339,2m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 127); diện tích 5.993,4m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 127) và diện tích 6.841,4m² thuộc thửa 1298 (thửa mới 81).
Anh Đ2 đồng ý giao cho anh T7 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất 764,7m² thuộc thửa mới 184, đồng ý giao cho anh V1 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 5.088,4m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 109). Anh Đ2 đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật đối với phần đất 6.297,7m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 204) do bà C đang quản lý, sử dụng. Anh Đ2 không tranh chấp cây trồng và căn nhà của ông H2 và bà C2 trên thửa đất 81, ai nhận phần đất có gắn cây trồng và căn nhà trên đất thì được quyền sử dụng hợp pháp cây trồng và căn nhà trên đất.
* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 19/5/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thành T7 trình bày: Năm 2008 ông Lê Văn H2 là ông nội của anh T7 có cho anh T7 phần đất diện tích 764,7m² thuộc thửa 1302 (thửa mới 184), đất toạ lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long do anh T7 quản lý và sử dụng nhưng quyền sử dụng đất do ông Lê Văn Đ đứng tên. Ngày 15/3/2012 ông Đ làm giấy xác nhận cho đất anh T7, anh T7 đã kê khai đăng ký đất theo chương trình đo đạc Vlap nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay anh Thân yêu c Tòa án công nhận cho anh T7 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 764,7m² thuộc thửa 1302 (thửa mới 184).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn T2 do chị Nguyễn Thị Hồng C1 đại diện trình bày: Ông T2 từ chối nhận di sản thừa kế nếu trong trường hợp di sản thừa kế của ông H2 và bà C2 được chia thừa kế theo pháp luật.
- Ông Lê Quang V1 và anh V1 do chị Nguyễn Thị Hồng C1 đại diện trình bày: Năm 2021 cha anh V1 là ông Lê Văn T2 được ông Đ tặng cho phần đất có diện tích 5.088,4m² thuộc tách thửa 1309 (thửa mới 109), đất toạ lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, giữa các bên đã làm hợp đồng tặng cho và được UBND xã H chứng thực, ông T2 kê khai đăng ký được cấp quyền sử dụng đất. Sau đó ông T2 tặng cho đất cho anh V1, ngày 21/10/2021 anh V1 được chỉnh lý biến động và đứng tên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh V1 đã quản lý sử dụng đất trồng cam không ai tranh chấp. Anh V1 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có liên quan đến phần đất này.
- Chị Phạm Thị Kiều D trình bày: Thống nhất ý kiến của anh Lê Quốc Đ2, không có yêu cầu gì khác.
- Chị Nguyễn Thị D1 (vợ anh T7) trình bày: Thống nhất ý kiến của anh T7, không có yêu cầu gì khác.
* Tại công văn số 22/UBND ngày 07/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã H có ý kiến như sau: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2008 giữa ông Lê Văn H2 và ông Lê Văn Đ kết quả tìm kiếm trong hồ sơ lưu trữ tại UBND xã H, huyện T không tìm thấy hợp đồng lý do qua nhiều cán bộ công chức phụ trách nên việc lưu trữ hồ sơ bị thất lạc.
* Tại công văn số 21/CNĐKĐĐ- THT ngày 01/06/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T có ý kiến như sau: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T) thực hiện chỉnh lý tặng cho quyền sử dụng đất từ ông Lê Văn H2 sang cho ông Lê Văn Đ là đúng qui định về trình tự, thủ tục của Điều 152 Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 và điểm b, khoản 9 Điều 3 Quyết định số 08/2006/QĐ- BTNMT ngày 21/7/2006 quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, quyết định:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim M và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Quốc Đ2 và anh Lê Thành T7. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Mai Kim C.
- Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2008 giữa ông Lê Văn H2 và ông Lê Văn Đ tại phần đất thổ, vườn, lúa diện tích 29.730 m² thuộc thửa 1298, 1309, 1302 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Anh Lê Quốc Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 10.332,6m² trong đó thuộc thửa mới 127-1 (tách thửa củ 1309) diện tích 5.993,4m² + thửa mới 127-2 (tách thửa củ 1309) diện tích 4.339,2m², tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất 10.332,6m² thuộc thửa mới 127 (tách thửa củ 1309) có vị trí gồm các mốc 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 9 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Anh Lê Quốc Đ2 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 10.332,6m² thuộc thửa mới 127 (tách thửa củ 1309) theo qui định của pháp luật.
- Anh Lê Quốc Đ2 được quyền quản lý và sử dụng hợp pháp phần đất để thờ cúng ông bà có diện tích 6.841,4m² trong đó thuộc thửa mới 81-1 (thửa củ 1298) diện tích 3.218,9m² + thửa mới 81-2 (thửa củ 1298) diện tích 3.622,5m², tờ bản đồ số 38, loại đất thổ và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 300 m² đất thổ và 6.541,4m² đất trồng cây lâu năm) tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Anh Lê Quốc Đ2 được quyền quản lý và sử dụng hợp pháp căn nhà và toàn bộ cây trồng gắn liền phần đất để thờ cúng ông bà có diện tích 6.841,4m² trong đó thuộc thửa mới 81-1 (thửa củ 1298) diện tích 3.218,9m² + thửa mới 81-2 (thửa củ 1298) diện tích 3.622,5m², tờ bản đồ số 38, loại đất thổ và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 300 m² đất thổ và 6.541,4m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất 6.841,4m² thuộc thửa mới 81 (thửa củ 1298) có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Anh Lê Quốc Đ2 và bà Lê Thị Kim M có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 6.841,4m² thuộc thửa mới 81 (thửa củ 1298) để anh Lê Quốc Đ2 và bà Lê Thị Kim M đứng tên chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.
- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn Đ là bà Mai Kim C, chị Lê Hồng H, chị Lê Hồng T1, anh Lê Quốc Đ1 và anh Lê Quốc Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 (tách thửa củ 1309), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 (tách thửa củ 1309) có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Bà Mai Kim C, chị Lê Hồng H, chị Lê Hồng T1, anh Lê Quốc Đ1 và anh Lê Quốc Đ2 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 (tách thửa củ 1309) theo qui định của pháp luật.
- Anh Nguyễn Thành T9 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 764,7m² thuộc thửa mới 184 (thửa củ 1302), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất diện tích 764,7m² thuộc thửa mới 184 (thửa củ 1302) có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Anh Lê Thành T7 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 764,7m² thuộc thửa mới 184 (thửa củ 1302) theo qui định của pháp luật.
- Về tài sản của bà Lê Thị Kim M là cây cam trồng gắn liền phần đất có diện tích 10.332,6m² thuộc thửa mới 127 (tách thửa củ 1309), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì anh Lê Quốc Đ2 và bà Lê Thị Kim M không tranh chấp, bà Lê Thị Kim M tiếp tục sử dụng đến khi hết hạn hợp đồng thuê đất, trường hợp không thỏa thuận được sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí giám định chữ ký, khảo sát đo đạc, định giá tài sản, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 04 tháng 8 năm 2023, bà Mai Kim C – là 01 trong 05 người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Lê Văn Đ (đã chết) kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm công nhận tổng số diện tích 29.730 m² thuộc thửa 1298, 1309, 1302 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là di sản của ông Lê Văn Đ chết để lại và đồng thời chia thừa kế cho những người thừa kế thứ nhất của ông Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bà Mai Kim C, thấy rằng:
Phần diện tích 29.730 m² thuộc thửa 1298, 1309, 1302 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, bà C yêu cầu công nhận là di sản của ông Lê Văn Đ chết để lại. Đây cũng là yêu cầu phản tố của bà C.
Hồ sơ thể hiện:
- Ngày 18/4/2008 ông Lê Văn H2 có lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho con trai là ông Lê Văn Đ có chữ ký tên của ông H2 và ông Đ nhưng không có chữ ký tên của bà C2 trong khi quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông H2 và bà C2.
- Nguyên đơn, bà M không thừa nhận có Hợp đồng tặng cho này và hiện tại không có bản chính (chỉ có bản phôtô).
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đã cung cấp cho Tòa án Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2008, có chỉnh lý trang 4 cho ông Đ đứng tên quyền sử dụng đất.
- Tại Kết luận giám định số 349/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Chữ ký tên “Hai” và chữ viết họ tên “Lê Văn H2” dưới mục bên A trên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chứng thực ngày 18/4/2008 là chữ ký, chữ viết sao chụp”.
Do đó, việc Tòa sơ thẩm tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2008 giữa ông H2 và ông Đ bị vô hiệu theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự 2005 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3]. Do Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bị vô hiệu, nên Tòa án sơ thẩm xác định toàn bộ phần diện tích 29.730 m² là di sản thừa kế của ông H2 và bà C2, đồng thời chia thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế là có căn cứ, trong đó: “Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn Đ là bà Mai Kim C, chị Lê Hồng H, chị Lê Hồng T1, anh Lê Quốc Đ1 và anh Lê Quốc Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 ( tách thửa củ 1309), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long” là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp các bên.
[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo bà Mai Kim C (70 tuổi) không phải chịu, do là người cao tuổi.
[6]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Kim C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim M và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Quốc Đ2 và anh Lê Thành T7. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Mai Kim C.
Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2008 giữa ông Lê Văn H2 và ông Lê Văn Đ tại phần đất thổ, vườn, lúa diện tích 29.730 m² thuộc thửa 1298, 1309, 1302 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Anh Lê Quốc Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 10.332,6m² trong đó thuộc thửa mới 127-1 (tách thửa củ 1309) diện tích 5.993,4m² + thửa mới 127-2 (tách thửa củ 1309) diện tích 4.339,2m², tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất 10.332,6m² thuộc thửa mới 127 (tách thửa củ 1309) có vị trí gồm các mốc 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 9 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Anh Lê Quốc Đ2 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 10.332,6m² thuộc thửa mới 127 (tách thửa củ 1309) theo qui định của pháp luật.
- Anh Lê Quốc Đ2 được quyền quản lý và sử dụng hợp pháp phần đất để thờ cúng ông bà có diện tích 6.841,4m² trong đó thuộc thửa mới 81-1 (thửa củ 1298) diện tích 3.218,9m² + thửa mới 81-2 (thửa củ 1298) diện tích 3.622,5m², tờ bản đồ số 38, loại đất thổ và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 300 m² đất thổ và 6.541,4m² đất trồng cây lâu năm) tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Anh Lê Quốc Đ2 được quyền quản lý và sử dụng hợp pháp căn nhà và toàn bộ cây trồng gắn liền phần đất để thờ cúng ông bà có diện tích 6.841,4m² trong đó thuộc thửa mới 81-1 (thửa củ 1298) diện tích 3.218,9m² + thửa mới 81-2 (thửa củ 1298) diện tích 3.622,5m², tờ bản đồ số 38, loại đất thổ và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 300 m² đất thổ và 6.541,4m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất 6.841,4m² thuộc thửa mới 81 (thửa củ 1298) có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Anh Lê Quốc Đ2 và bà Lê Thị Kim M có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 6.841,4m² thuộc thửa mới 81 (thửa củ 1298) để anh Lê Quốc Đ2 và bà Lê Thị Kim M đứng tên chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.
- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn Đ là bà Mai Kim C, chị Lê Hồng H, chị Lê Hồng T1, anh Lê Quốc Đ1 và anh Lê Quốc Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 (tách thửa củ 1309), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 (tách thửa củ 1309) có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Bà Mai Kim C, chị Lê Hồng H, chị Lê Hồng T1, anh Lê Quốc Đ1 và anh Lê Quốc Đ2 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 6.297,7m² thuộc thửa mới 204 (tách thửa củ 1309) theo qui định của pháp luật.
- Anh Nguyễn Thành T9 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 764,7m² thuộc thửa mới 184 (thửa củ 1302), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Phần đất diện tích 764,7m² thuộc thửa mới 184 (thửa củ 1302) có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 19/06/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo bản án).
Anh Lê Thành T7 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 764,7m² thuộc thửa mới 184 (thửa củ 1302) theo qui định của pháp luật.
- Về tài sản của bà Lê Thị Kim M là cây cam trồng gắn liền phần đất có diện tích 10.332,6m² thuộc thửa mới 127 (tách thửa củ 1309), tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì anh Lê Quốc Đ2 và bà Lê Thị Kim M không tranh chấp, bà Lê Thị Kim M tiếp tục sử dụng đến khi hết hạn hợp đồng thuê đất, trường hợp không thỏa thuận được sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
- Anh Lê Quốc Đ2 được quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 10.332,6m² trong đó thuộc thửa mới 127-1 (tách thửa củ 1309) diện tích 5.993,4m² + thửa mới 127-2 (tách thửa củ 1309) diện tích 4.339,2m², tờ bản đồ số 38, loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mai Kim C không phải chịu án phí.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 291/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 291/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
