TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 291/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Hữu Hậu;
Bà Vương Thị Khánh Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 279/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 281/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 tại Tiền Giang;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc C và bà Nguyễn Thị Ú; chung sống như vợ chồng với chị Lê Thị T1, có 01 con sinh năm 2009.
- Tiền án:
- + Ngày 26/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 55/2020/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/02/2021.
- + Ngày 01/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 20/2021/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/02/2022.
- Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 18/02/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 423/LTG-ĐTTH ngày 27/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Tổ C, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/02/2024, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda biển số 60F2-076.81 đi đến trước tiệm sửa xe “L1” tại tổ C, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện bên trong nhà không có ai trông coi. Tèo để xe mô tô trước cửa nhà rồi đi bộ đến bên cửa sổ nhìn vô trong nhà thì thấy có một chảng ba xe máy bằng kim loại dài khoảng 25 cm, T lấy chảng ba trên rồi cậy bung cửa sổ trèo vô trong nhà tìm kiếm tài sản trộm cắp nhưng chưa lấy được tài sản thì bị chủ nhà là anh Nguyễn Văn L phát hiện hô hoán nên T nhảy ra khỏi cửa sổ thoát ra khỏi nhà. Tèo chạy được 200m thì bị anh L đuổi bắt được và trình báo cơ quan Công an xử lý theo quy định.
Vật chứng vụ án:
- 01 thanh kim loại dài 30 cm đã trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn L;
- 01 xe Honda biển số 60F2-076.81: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T2, ông T2 cho bà Nguyễn Thị C1 mượn. Sau đó, bà C1 cho T mượn, bà C1 không biết T sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông T2.
Về dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn L không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 288/CT-VKSBH ngày 14/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 15 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 đến 08 tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không bào chữa và tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Nguyễn Văn T có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/02/2024, T có hành vi cậy bung cửa sổ trèo vô trong tiệm sửa xe “L1” tại tổ C, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản gì thì bị chủ nhà là anh Nguyễn Văn L phát hiện bắt được và trình báo cơ quan Công an xử lý theo quy định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung, lời khai bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thể hiện bị cáo không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả cho chủ sở hữu 01 thanh kim loại dài 30cm và 01 xe Honda biển số 60F2-076.81 là phù hợp quy định pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 38 và Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hoàng Long |
Bản án số 291/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 291/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
