Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 291 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/8/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Thảo

Bà Nguyễn Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 225/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Người được chị H ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng: Anh Lê Tiến Đ, địa chỉ: Số C ngõ A N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Cao Văn S, sinh năm 1981.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Chỗ ở hiện nay: Hàn Quốc.

Chị H, anh Đ, anh S đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Cao Văn S tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T (nay thành phố H), tỉnh Hải Dương vào ngày 28/5/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng gia đình anh S tại xã Q, huyện T (nay là thành phố H), đến ngày 13/7/2011 anh S đi lao động tại Hàn Quốc, vợ chồng xa cách thi thoảng gọi điện nói chuyện với nhau. Năm 2013, chị sang Hàn Quốc cùng anh S được 6 tháng thì chị về Việt Nam để sinh con. Đến năm 2015 chị tiếp tục quay lại Hàn Quốc làm việc, năm 2021 chị về hẳn Việt Nam để chăm sóc các con, anh S từ khi đi Hàn Quốc đến nay chưa về nước lần nào. Do vợ chồng xa cách nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng thiếu sự tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Văn S.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Cao Thảo C, sinh ngày 12/02/2009 và Cao Tiến Đ1, sinh ngày 25/5/2014, hiện nay 02 con chung đều đang ở cùng với chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi trưởng thành và yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị là 10.000.000đồng/cháu/tháng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh S tại Hàn Quốc nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh S, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh S. Ông Cao Lịch S1, bà Phạm Thị Á là bố, mẹ đẻ của anh S trình bày: Anh S hiện đang làm việc tại Hàn Quốc từ năm 2011 đến nay chưa về nước nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, anh S không nói rõ địa chỉ cho ông, bà nên ông bà không cung cấp được cho Tòa án. Các văn bản Tòa án gửi cho anh S, ông bà đã thông báo cho anh S, anh S đã biết chị H có đơn xin ly hôn nhưng anh S không có quan điểm. Vợ chồng anh S có 02 con chung là Cao Thảo C, sinh ngày 12/02/2009 và Cao Tiến Đ1, sinh ngày 25/5/2014 hiện đang ở cùng chị H. Các văn bản Tòa giao cho anh S, ông bà nhận thay và có trách nhiệm thông báo cho anh S.

- Xác minh về thu nhập bình quân của người lao động và chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của 01 trẻ em trong năm 2023 tại xã Q, thành phố H như sau: Theo báo cáo phát triển kinh tế tại xã Q thu nhập bình quân theo đầu người năm 2023 là 68.000.000 đồng/người/năm; Mức bình quân nuôi dưỡng trẻ em khoảng 3.000.000 đồng/tháng.

Tại phiên tòa: Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Anh S vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Cao Văn S; Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Cao Thảo C, sinh ngày 12/02/2009 và Cao Tiến Đ1, sinh ngày 25/5/2014 đến khi con chung trưởng thành. Anh S có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị H là 3.000.000đồng/cháu/tháng (6.000.000đồng/2 cháu/tháng) cho đến khi con chung trưởng thành; Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, anh S phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Cao Văn S. Anh S hiện đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh S tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh S cung cấp địa chỉ, nhưng chị H và gia đình anh S không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh S thường xuyên có liên lạc với gia đình nhưng anh S không cung cấp địa chỉ của anh S tại Hàn Quốc và không gửi văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa chị H, anh Đ1 đề nghị xin xét xử vắng mặt; anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh Đ1 và anh S.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T (nay thành phố H), tỉnh Hải Dương vào ngày 28/5/2008 là hôn nhân hợp pháp. Năm 2011, anh S sang Hàn Quốc lao động, năm 2013 chị H sang Hàn Quốc sinh sống cùng chồng, sau đó về Việt Nam sinh con, đến năm 2015 chị H tiếp tục sang Hàn Quốc làm việc và sinh sống cùng chồng. Năm 2021, chị H về Việt Nam để chăm sóc các con, còn anh S vẫn tiếp tục ở lại Hàn Quốc đến nay chưa về nước. Chị H xác định vợ chồng xa cách nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm đã không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S, thông qua gia đình anh S đã biết chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh S nhưng anh S không có quan điểm và biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công ỉnh\Tòa hành chính\TP.Hoa\HNGĐ\Năm_2024\TLST 426 Cúc Điển\5" \o "việc"việc trong gia đình nhưng từ năm 2021 cho đến nay vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau, không có sự thống nhất trong kinh tế gia đình, thường xuyên xảy ra to tiếng mỗi khi liên lạc. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp.

- Về quan hệ con chung: Chị H và anh S có 02 con chung là Cao Thảo C, sinh ngày 12/02/2009 và Cao Tiến Đ1, sinh ngày 25/5/2014, hiện đang ở cùng chị H. Chị H có quan điểm đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung sau khi ly hôn và yêu cầu S cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị là 10.000.000đồng/cháu/tháng (20.000.000đồng/2cháu/tháng).

Xét thấy cháu C và cháu Đ1 hiện đang ở cùng chị H và đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng mẹ. Để ổn định cuộc sống cũng như học tập của con chung cần chấp nhận đề nghị của chị H: Tiếp tục giao con chung Cao Thảo C và Cao Tiến Đ1 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, xác minh về thu nhập bình quân người lao động, chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của trẻ em trong năm 2023 tại xã Q thì anh S phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị H là 3.000.000đồng/cháu/tháng (6.000.000đồng/2cháu/tháng) cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Anh Cao Văn S được quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; anh S chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Cao Văn S.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung Cao Thảo C, sinh ngày 12/02/2009 và Cao Tiến Đ1, sinh ngày 25/5/2014, thời gian từ tháng 8/2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Anh Cao Văn S có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị H là 3.000.000đồng/cháu/tháng (6.000.000đồng/2cháu/tháng) thời gian từ tháng 8/2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi.
  3. Anh Cao Văn S được quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

    Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung nếu anh S chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000437 ngày 29/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (anh Đ1 đã nộp thay).
  5. Anh Cao Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung (anh S chưa nộp).

  6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Anh Cao Văn S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Quyết Thắng, thành phố Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, THC, TGĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HNGĐ-ST ngày 11/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 291/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn Cao Văn S và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger