Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 291/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 - 9 - 2024

V/v ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Phan Mạnh Tưởng

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 239/ 2024/ TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/ 2024/ QĐXX - HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2024/QÐST - DS ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988

Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1984

Đều có HKTT: Thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.

Chị T có mặt, anh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

  • Về hôn nhân: Chị T và anh Vũ Văn C tự nguyện kết hôn vào ngày 03/02/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay tại tỉnh Điện Biên, đến tháng 8 năm 2012 chị T về gia đình đẻ ở thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội ở. Năm 2014 thì anh C về ở cùng với chị T từ đó cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh C không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị T đề nghị được ly hôn với anh C.
  • Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Gia B, sinh ngày 05/4/2018. Hiện nay cháu B đang ở với chị T. Ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
  • Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về phía bị đơn, anh Vũ Văn C:

Quá trình giải quyết vụ án, anh C không đến Tòa làm việc, nên Tòa án kết hợp với UBND xã A đến tận nhà anh C tống đạt và niêm yết, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh C vẫn không đến tòa làm việc.

Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh C cố tình không đến Tòa làm việc, nên không rõ quan điểm của anh C.

Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
  • Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Vũ Văn C; giao cháu Vũ Gia B, sinh ngày 05/4/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh C đến khi chị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, anh Vũ Văn C vẫn có mặt tại nơi cư trú nhưng không đến tòa làm việc, nên Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không thấy anh C đến Tòa làm việc, nên bị coi là trường hợp bị đơn cố tình không đến Tòa làm việc; vì vậy, không cần sự có mặt của anh C, Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn C tự nguyện kết hôn ngày 03/02/2012, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn được một thời gian hai anh, chị chung sống với nhau tại gia đình chị T ở thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Thời gian chung sống với nhau chẳng được bao nhiêu, sau đó cả hai không chung sống với nhau nữa, bằng việc anh C không ở cùng với chị T nữa là một bằng chứng nói lên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C tuy không rõ nguyên nhân từ đâu, song đã ẩn chứa những mâu thuẫn, bất đồng hết sức nghiêm trọng. Do thời gian ly thân đã lâu, mọi níu kéo trở nên vô vọng, tình cảm vợ chồng không còn, phía chị T quyết định xin ly hôn anh C. Quá trình tố tụng, việc anh C cố tình không chịu đến tòa làm việc không chỉ thể hiện thái độ không tôn trọng cơ quan tố tụng mà ở một góc độ khác còn thể hiện ý thức không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn giữa các bên là có và hiện nay anh C không cùng chung sống với chị T nữa.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn C đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa. Vì vậy, yêu cầu của chị T xin ly hôn anh C là có cơ sở, nên áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Vũ Văn C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Gia B, sinh ngày 05/4/2018, hiện nay cháu B đang ở với chị T. Quá trình giải quyết chị T nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B; hơn nữa anh C không đến Tòa làm việc, không biết được quan điểm của anh C, nên giao cháu Vũ Gia B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C.

Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án do anh Vũ Văn C không đến Tòa làm việc, nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ của vợ chồng, cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn C.
  2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Gia B, sinh ngày 05/4/2018. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh C đến khi chị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0007989 ngày 19/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Chị T đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố;
  • - VKSND Thành phố, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã T;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Phi Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 291/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn T-C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger