|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG Bản án số: 291/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 – 12–2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi, ông Nguyễn Văn Ngân
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng Khoa – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 49/2025/QÐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Bình E, sinh năm 1992, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã C, tỉnh An Giang (yêu cầu vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1994, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: Tổ B, ấp P, xã P, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: C11/16I, Ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai ngày 27/10/2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Bình E trình bày:
Năm 2019, anh Lê Bình E và chị Nguyễn Thị Kim H được mai mối, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P (Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2019, ngày 04 tháng 06 năm 2019). C sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân do cự cãi chuyện vặt trong gia đình, Kim H tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, anh có khuyên ngăn nhưng không được, chính thức ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Do tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Thị Kim H.
2
Về con chung: có 01 con chung tên Lê Nguyễn Kim T, sinh ngày 03/9/2019, hiện đang sống với Kim H, anh đồng ý giao cho Kim H nuôi con, không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản, nợ chung (phải thu, phải trả) không có.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kim H: Tòa án đã triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng đều vắng mặt không có lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh, bà Lê Thị T1 (mẹ ruột anh anh Bình E) xác định hiện nay vợ chồng anh Bình E, Kim H đã ly thân, không còn sống chung từ khoảng năm 2020 đến nay. Sau khi lập gia đình thì vợ chồng E - H cùng chung sống tại nhà của bà, khi vợ chồng xảy ra cự cãi bà có biết, do chuyện lặt vặt nên bà không để tâm, Kim H bỏ nhà đi không quay về, ly thân từ năm 2020 đến nay. Việc Bình E yêu cầu ly hôn với Kim H thì bà không có ý kiến. Có 01 con chung tên Nguyễn Kim T, sinh ngày 03/9/2019, khi Kim H bỏ nhà đi thì có dẫn Kim T đi theo đến nay.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Lê Bình E được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim H. Về con chung, giao chị Kim H được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Kim T, sinh ngày 03/9/2019 đến thành niên và tự lập được, anh B Em không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Anh Bình E phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng:
- [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Lê Bình E có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim H đã được triệu tập hợp lệ
3
lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Em, chị H.
-
Về nội dung:
- [2.1] Về yêu cầu ly hôn: Anh Lê Bình E và chị Nguyễn Thị Kim H là vợ chồng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi, anh Bình E và chị Kim H đã không còn chung sống từ năm 2020 đến nay. Tòa án đã triệu tập chị Kim H để tham gia hòa giải, xét xử nhưng chị không đến, anh B Em cương quyết ly hôn, do đó chấp nhận cho anh Lê Bình E được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim H là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- [2.2] Về con chung: Sau khi ly thân đến nay, con chung tên tên Nguyễn Kim T, sinh ngày 03/9/2019 do chị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 tiếp tục giao con chung cho chị Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên và lao động được. Do chị Kim H không có ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh B Em không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của 02 con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- [2.3] Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Ghi nhận anh Em xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Bình E phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Kim H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Bình E.
- Về hôn nhân: anh Lê Bình E được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim H.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Kim T, sinh ngày 03/9/2019 đến khi thành niên và tự lập được (hiện nay con chung đang do chị Kim H nuôi dưỡng). Anh Lê Bình E không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4
Anh Lê Bình E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Nguyễn Thị Kim H cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung (phải thu, phải trả): Không có.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Lê Bình E phải chịu án phí 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003571 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị Nguyễn Thị Kim H không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Hội thẩm nhân dân toà |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên |
Bản án số 291/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 291/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
