Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 291/2025/DS-ST

Ngày: 06 – 6 – 2025

V/v: “T/c: Kiện đòi tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Soan

bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân

quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: bà

Trần Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 1274/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024; về tranh chấp khi thụ lý là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” (tranh chấp đã được xác định lại tại phiên tòa là “Kiện đòi tài sản”) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 164/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; địa chỉ liên lạc: C đường T, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: bà Triệu Thị Ái N, sinh năm 1994; địa chỉ: TĐP C, Đ, S, Q và bà Đặng Thanh H, sinh năm 2002; thường trú: thôn T, H, H, Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: Số C Đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

Bị đơn: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959; địa chỉ thường trú: A N, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: 4 Đ, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2023, bản tự khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: vào ngày 27/4/2020, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị P đã ký Hợp đồng đặt cọc số A26/RT-TTĐ/HĐĐC với nội dung bà Phước hứa chuyển nhượng, ông Đ hứa nhận chuyển nhượng nền đất số A26 thuộc dự án khu dân cư R tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 80 m² (do bà Phước làm chủ đầu tư) theo Bản vẽ mặt bằng tổng thể phân lô đã được Ủy ban nhân dân huyện C phê duyệt ngày 04/5/2018. Giá trị chuyển nhượng là 1.425.600.000 đồng, ông Đ đã thanh toán cho bà Phước 50% giá trị hợp đồng tương đương với số tiền 712.800.000 đ (bảy trăm mười hai triệu tám trăm ngàn đồng).

Tuy nhiên quá thời hạn cam kết theo Điều 3.1, Điều 6.2 của Hợp đồng đặt cọc, bà Phước vẫn không thể công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nền nêu trên cho ông Đ. Vì vậy, ngày 01/12/2022, hai bên có lập Biên bản làm việc để thanh lý Hợp đồng đặt cọc nêu trên, với nội dung bà Phước có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ số tiền 712.800.000 đ (bảy trăm mười hai triệu tám trăm ngàn đồng) đã nhận cọc, chậm nhất đến ngày 30/5/2023 thì bà Phước phải trả đủ cho ông Đ số tiền này.

Nhưng cho đến ngày 17/01/2023, sau rất nhiều lần ông Đ gọi điện, nhắn tin đòi tiền thì bà Phước mới chuyển cho ông Đ số tiền là 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng), tới hiện nay ông Đ vẫn chưa nhận được thêm tiền trả cọc của bà Phước. trong suốt thời gian qua, ông Đ tìm bà Phước đòi tiền nhưng đều không nhận được tiền, hiện bà Phước còn giữ của ông Đ 662.800.000 đồng tiền cọc, bà Phước thường lấy lý do đang bận và tắt máy. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị P trả toàn bộ số tiền như thỏa thuận tại Biên bản làm việc ngày 01/12/2022 giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị P về việc thống nhất thanh lý Hợp đồng đặt cọc số A26/RT-TTĐ/HĐĐC ký ngày 27/4/2020. Vì bà Phước đã trả 50.000.000 đ nên ông Đ yêu cầu bà Phước tiếp tục thanh toán số tiền còn lại là 662.800.000 đ (sáu trăm sáu mươi hai triệu tám trăm ngàn đồng có tính lãi suất chậm trả tiền theo quy định của pháp luật, tính lãi kể từ ngày 31/5/2023 là thời điểm bà Phước vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho đến ngày 06/6/2025 là ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thì Hợp đồng đặt cọc đã được các bên thanh lý vào ngày 01/12/2022. Ông Đ yêu cầu bà Phước tiếp tục thanh toán số tiền còn lại là 662.800.000 đ (sáu trăm sáu mươi hai triệu tám trăm ngàn đồng) có tính lãi suất chậm trả tiền theo quy định của pháp luật, tính lãi kể từ ngày 31/5/2023 là thời điểm bên bán vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho đến ngày 06/6/2025 là ngày xét xử sơ thẩm là có cơ sở, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện bà Nguyễn Thị P về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, mục đích khởi kiện là để đòi bà Phước số tiền nhận cọc, nhưng do ông Đ và bà Phước đã ký Biên bản làm việc vào ngày 01/12/2022 để thanh lý Hợp đồng đặt cọc số A26/RT-TTĐ/HĐĐC ký ngày 27/4/2020. Như vậy, cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Kiện đòi tài sản”, đây là tranh chấp quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là bà Phước có nơi cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

[2] Về nội dung:

Đối với yêu cầu của nguyên đơn là thanh toán số tiền còn lại là 662.800.000 đ (sáu trăm sáu mươi hai triệu tám trăm ngàn đồng) có tính lãi suất chậm trả tiền theo quy định của pháp luật kể từ ngày 31/5/2023 là thời điểm bà Phước vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho đến ngày 06/6/2025 là ngày xét xử sơ thẩm.

Hội đồng xét xử nhận thấy: ông Đ và bà Phước có giao dịch hợp đồng đặt cọc, nhưng hai bên đã ký Biên bản làm việc ngày 01/12/2022, nội dung biên bản đã xác định ông Đ và bà Phước cùng thống nhất thanh lý hợp đồng và bà Phước còn nợ ông Đ số tiền 712.800.000 đồng là tiền ông Đ đặt cọc để bảo đảm cho việc chuyển nhượng đất, chậm nhất đến ngày 30/5/2023 thì bà Phước phải trả đủ cho ông Đ số tiền này. Nhưng sau nhiều lần ông Đ đòi tiền, bà Phước chỉ trả được 50.000.000 đồng, hiện bà Phước còn nợ ông Đ số tiền 662.800.000 đồng, Hội đồng xét xử sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định bà Phước còn nợ ông Đ số tiền 662.800.000 đồng là có thật.

Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để bà Phước tới tham gia tố tụng để cùng với ông Đ giải quyết về khoản nợ này tại Tòa án, nhưng bà Phước đã không tới Tòa án giải quyết, chứng tỏ bà Phước thừa nhận nợ, nhưng vẫn chưa muốn trả nợ cho ông Đ.

Hội đồng xét xử đã đồng ý với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 166, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 để thống nhất như sau:

Buộc bà Phước phải trả ông Đ số tiền gốc là 662.800.000 đồng, có tính lãi chậm trả từ ngày 31/5/2023 đến ngày 06/6/2025 (ngày xét xử). Như vậy, tổng thời gian chịu lãi chậm trả là 02 năm + 06 ngày, được tính như sau:

662.800.000 đồng x 10%/năm x 02 năm + lãi của 6 ngày = 133.664.667 đồng.

Tổng số tiền ông Đ yêu cầu bà Phước thanh toán là 796.464.667 đ (bảy trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi bốn ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng); trong đó: tiền gốc là 662.800.000 đồng, tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử là 133.664.667 đồng.

Kể từ khi ông Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phước chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Phước còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 35.858.587 đ (ba mươi lăm triệu tám trăm năm mươi tám ngàn năm trăm tám mươi bảy đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại số tiền 15.856.000 đ (mười lăm triệu tám trăm năm mươi sáu ngàn đồng) cho ông Nguyễn Văn Đ mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0032069 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 166, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Tòa án xác định bà Nguyễn Thị P còn nợ ông Nguyễn Văn Đ số tiền 662.800.000 đồng và lãi chậm trả là 133.664.667 đồng từ việc ký kết và thanh lý Hợp đồng đặt cọc số A26/RT-TTĐ/HĐĐC ký ngày 27/4/2020.

Tòa án buộc bà Nguyễn Thị P phải trả ông Nguyễn Văn Đ tổng số tiền là 796.464.667 đ (bảy trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi bốn ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng); trong đó: tiền gốc là 662.800.000 đồng, tiền lãi chậm trả tính từ ngày 31/5/2023 đến ngày xét xử là 133.664.667 đồng.

Kể từ khi ông Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phước chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Phước còn phải trả lãi đối với số tiền còn nợ tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 35.858.587 đ (ba mươi lăm triệu tám trăm năm mươi tám ngàn năm trăm tám mươi bảy đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại số tiền 15.856.000 đ (mười lăm triệu tám trăm năm mươi sáu ngàn đồng) cho ông Nguyễn Văn Đ mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0032069 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND q. GV;
  • - THA DS q. GV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thế Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 291/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P phải trả lại tài sản.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger