|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 291/2025/DS-PT Ngày 28-5-2025 V/v tranh chấp đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh; |
| Bà Trần Thị Thanh Trúc. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 280/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1959; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị H: Ông Lê Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: khu phố E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 05/9/2024), có mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Thị Thiên N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Phan Thị Thiên N: Ông Vũ Tiến N1, sinh năm 1970; địa chỉ: hẻm G, tổ A, đường H, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/7/2024), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Chí L, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng cáo: bị đơn bà Phan Thị Thiên N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:
Bà Trần Thị Huỳnh quan H1 là mẹ ruột của ông Đinh Chí L, còn bà Phan Thị Thiên N là vợ của ông Đinh Chí L và là con dâu của bà H. Năm 2023, ông L và bà N đã ly hôn.
Đặc điểm, số lượng các tài sản hiện nay đang tranh chấp với bà Phan Thị Thiên N bao gồm:
- - 01 bộ bàn ăn bằng gỗ màu đỏ + vàng nhạt (gồm có 01 cái bàn và 10 cái ghế dựa cao khoảng 1m) trị giá 15.000.000 đồng.
- - 01 bộ bàn ghế Sofa bằng da màu đỏ vàng (gồm 01 bàn dài khoảng 1,4m, 01 ghế dài, 02 ghế ngồi, 02 cái đun) trị giá 12.000.000 đồng.
- - 01 bộ bàn ghế gỗ (Gõ đỏ) (gồm có 01 bàn dài khoảng 1-1,2m, 02 cái ghế ngồi, 02 ghế đun) trị giá 50.000.000 đồng.
- - 02 tấm ván màu đen nhẹ (gỗ lim) có kích thước chiều dài 3,2m, chiều ngang 70cm trị giá 100.000.000 đồng.
- - 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây (gồm 01 cái bàn và 04 cái ghế), trị giá 20.000.000 đồng.
- - 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch, trị giá 22.000.000 đồng.
Về nguồn gốc tài sản 01 bộ bàn ăn bằng gỗ giá trị 15.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ) giá trị 50.000.000 đồng; 02 tấm ván gỗ lim giá trị 100.000.000 đồng là mua của bà Phan Thị Thu P (sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú: số C, đường P, khu phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: hẻm D, đường N, khu phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương) với tổng số tiền 165.000.000 đồng. Còn tivi hiệu Sam Sung 75 inch có nguồn gốc khoảng năm 2021-2022, bà H mua từ diện máy Chợ Lớn với số tiền trị giá 22.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế Sofa mua của Cửa hàng T8 số tiền 17.000.000 đồng (bà H đưa tiền cho ông Đinh Chí L thanh toán), còn 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây có nguồn gốc năm 2021-2022 ông Hồ Văn N2 (sinh năm 1954; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương) tặng cho ông Đinh Chí L. Sau đó, ông Đinh Chí L không có nhu cầu sử dụng nữa nên tặng cho bộ bàn ghế này cho bà H sử dụng cho đến nay là hoàn toàn đúng sự thật.
Những tài sản tranh chấp là của bà Huỳnh Đ trong căn nhà gỗ của bà H. Bà N tự ý chuyển toàn bộ lấy tài sản tranh chấp từ nhà gỗ của bà H sang nhà cấp 4 (của bà N, ông L) để sử dụng. Sau khi phát hiện sự việc, sáng ngày 19/02/2024 thì bà H có làm đơn gửi đến Công an xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương để trình báo sự việc, Công an xã Đ có tiếp nhận đơn trình báo này. Tuy nhiên đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bà H biết thông tin bà N có nhờ 03 xe lôi chở hàng cùng với 04 người phụ để đem tài sản này lên xe lôi vận chuyển đi nơi khác. Vì vậy, bà H đã quay lại Video toàn bộ nội dung sự việc, đồng thời báo cho Công an xã Đ để xử lý. Sau đó, Công an xã Đ có xuống hiện trường thì toàn bộ tài sản được đem trả lại tài sản này ở vị trí căn nhà cấp 4.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện ủy quyền ông Lê Văn T yêu cầu bà Phan Thị Thiên N phải trả lại toàn bộ tài sản trên là 01 bộ bàn ghế sofa bằng da; 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch; 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ; 02 tấm ván gỗ lim. Toàn bộ tài sản đã được Hội đồng định giá huyện D xác định 117.620.000 đồng và yêu cầu được nhận số tiền này. Đối với 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ; 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây và số tiền chênh lệnh giá trị tài sản tranh chấp là 66.380.000 đồng thì nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện và không tranh chấp tài sản này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/7/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Phan Thị Thiên N và người đại diện ủy quyền của bị đơn ông Vũ Tiến N1 trình bày:
Trước đây bà Phan Thị Thiên N là vợ của ông Đinh Chí L và trong quá trình chung sống có 01 người con chung tên Đinh Toàn P1, sinh ngày 19/6/2019. Đầu năm 2023, ông L và bà N đã ly hôn theo Quyết định số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Chứng cứ “Giấy mua bán tay” không ghi ngày tháng năm thể hiện nội dung bà Phan Thị Thu P có bán cho bà Trần Thị H tài sản gồm có: 01 bộ bàn ăn bằng gỗ giá trị 15.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế Sofa bằng da trị giá 12.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ) giá 50.000.000 đồng; 02 tám ván gỗ giá trị 100.000.000 đồng. Đây là giao dịch dân sự giữa bà P và bà H, không có liên quan gì đến bà N.
Quá trình nộp đơn khởi kiện thì nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án 01 USB có chứa nội dung hình ảnh, âm thanh và 22 tấm ảnh được đánh số thứ tự từ 01 đến 22 có chữ ký của bà Trần Thị Huỳnh M Tòa án đã gửi cho người đại diện ủy quyền của bị đơn xem xét. Chứng cứ này do bà Trần Thị Huỳnh T1 lén lút chụp ảnh lại toàn bộ tài sản trong thời kỳ hôn nhân, không được sự đồng ý của bà N nên không có giá trị pháp lý. Những hình ảnh chụp (mặt sau được đánh số thứ tự 09, 10, 12, 13, 14, 20 cùng với chữ ký của bà Trần Thị H) mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án có hình ảnh 02 người phụ nữ và 01 người đàn ông. Người đại diện hợp pháp của bị đơn không thừa nhận chứng cứ này vì nguyên đơn tự ý quay video, chụp hình ảnh không đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà Trần Thị Huỳnh cung C cho Tòa án cụ thể tấm ảnh số thứ tự 01, 04 là 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ; số thứ tự số 02, 05 là 01 bộ bàn ghế sofa bằng da; số thứ tự số 03, 18, 19, 20 là 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ; số thứ tự số 07, 08 là 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây; số thứ tự số 16 là 01 cái 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch thì chứng cứ này không có giá trị chứng minh gì cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn bà Phan Thị Thiên N và đại diện theo ủy quyền ông Vũ Tiến N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ về nguồn gốc 01 bộ bàn ghế Sofa mua của Cửa hàng T8 số tiền 17.000.000 đồng; 01 cái Tivi hiệu Sam Sung 75 inch có nguồn gốc mua từ Siêu thị điện máy - Nội thất C với giá trị 25.990.000 đồng do ông Đinh Chí L là người thanh toán tiền vào ngày 23/11/2022; 01 bộ bàn ghế gỗ bằng cây Gõ là tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; còn 01 bộ bàn ghế gốc rễ cây do ông Hồ Văn N2 tặng cho và hiện tại bà N là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản này trong căn nhà của bà N sinh sống. Mặc khác phía bà H không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nguồn gốc đây là tài sản của cá nhân mình.
Quá trình tham gia tố tụng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Chí L trình bày:
Bà Trần Thị H là mẹ ruột của ông Đinh Chí L.
Trước đây bà N là vợ của ông Đinh Chí L và trong quá trình chung sống có 01 người con chung tên Đinh Toàn P1, sinh ngày 19/6/2019. Năm 2023, ông L và bà N đã ly hôn theo Quyết định số 17/2023/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Đối với diện tích 478,1m² tại thửa đất 709, tờ bản đồ 22 tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc, vợ chồng bà Trần Thị H, ông Đinh Văn T2 tặng cho theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 28/01/2022 cho ông Đinh Chí L. Đến ngày 30/3/2022, ông Đinh Chí L được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp quyền sử dụng đất số CS04743. Ngày 28/02/2023, ông Đinh Chí L lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên cho con trai tên Đinh Toàn P1. Đến ngày 31/3/2023 thì ông Đinh Chí L, bà Phan Thị Thiên N cùng là người giám hộ cho cháu Đinh Toàn P1, sinh ngày 19/6/2019 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS06141.
Trên phần đất diện tích 478,1m² thuộc thửa đất 709, tờ bản đồ 22 tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương vào năm 2022, được sự đồng ý của bà Trần Thị H thì ông L tiến hành xây dựng căn nhà cấp 4 có diện tích 75m², kết cấu tường xây tô, lợp tôn lạnh, đóng la phông, nền gạch men và phía trước nối liền căn nhà cấp 4 là căn nhà gỗ có tổng diện tích 50m², kết cấu cột gỗ cây, lợp ngói nhưng hiện nay không ai sinh sống ở căn nhà này. Còn trên diện tích đất 1.362,9m², thửa đất 710, bà Trần Thị Huỳnh C1 tiến hành xây dựng căn nhà gỗ diện tích 160m² và đang quản lý, sử dụng cho đến nay.
Chứng cứ tấm ảnh số thứ tự 01, 04 là 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ; số thứ tự số 02, 05 là 01 bộ bàn ghế sofa bằng da; số thứ tự số 03, 18, 19, 20 là 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ; số thứ tự số 07, 08 là 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây; số thứ tự 01, 04 là 02 tấm ván gỗ lim; số thứ tự số 16 là 01 cái 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch. Toàn bộ tài sản này nằm ở vị trí trong căn nhà gỗ 160m² của bà Trần Thị H đang quản lý, sử dụng.
Nguồn gốc tài sản tranh chấp năm 2020-2021, toàn bộ tài sản gồm có 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ (tấm ảnh số thứ tự 01, 04) là của ông Đinh Chí L bán cho bà Phan Thị Thu P, còn 01 bộ bàn bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ) (đánh số thứ tự 03, 18, 19, 20 so với ảnh chụp); 02 tám ván gỗ lim (đánh số thứ tự 01, 04 so với ảnh chụp) là của gia đình bà P. Sau đó, đến năm 2021 gia đình bà Phan Thị Thu P không có nhu cầu sử dụng nữa nên tìm người bán lại nên có hỏi ông Đinh Chí L thì ông L nói rằng mẹ của mình là bà Trần Thị Huỳnh M1 tìm mua tài sản này để sử dụng. Vì vậy, bà Phan Thị Thu P đã đồng ý bán cho bà Trần Thị H 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ; 01 bộ bàn bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ); 02 tám ván gỗ lim và bà H là người trực tiếp thanh toán số tiền 165.000.000 đồng cho bà P. Mặc dù trong quá trình lấy lời khai tại Tòa án ông L có sự nhầm lẫn về tài sản 01 bộ ghế S là bán cho bà P là chưa chính xác nhưng trên thực tế việc mua bán giữa bà P và bà H hoàn toàn đúng sự thật. Việc bà H mua bán tài sản này thì bị đơn bà Phan Thị Thiên N biết rõ sự việc và chứng kiến việc giao nhận tài sản này vì khi đó đang sống chung với ông L.
Đối với 01 bộ ghế gỗ bằng rễ cây (gồm 01 cái bàn và 04 cái ghế) có nguồn gốc của ông Hồ Văn N2 tặng cho ông Đinh Chí L và bà Phan Thị Thiên N vào năm 2019. Đối với 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch có nguồn gốc khoảng năm 2021-2022, mua từ điện máy C với số tiền trị giá 25.990.000 đồng; 01 bộ bàn ghế Sofa bằng da (tấm ảnh số thứ tự số 02, 05) mua ở Cửa hàng TTNT Như Tuyết số tiền 17.000.000 đồng (bà H đưa tiền cho ông Đinh Chí L thanh toán 02 tài sản này). Đây là tài sản của bà H không phải là tài sản chung của hai vợ chồng ông L, bà N.
Vị trí nơi tài sản tranh chấp là từ ngã tư K đi vào cầu S là đường nhựa ĐT 744, giáp đường nhựa ĐT 744 phía bên tay trái là căn nhà cấp 4 nối liền căn nhà gỗ diện tích 75m² của ông L, bà N được xây dựng trên diện tích 478,1m² mà bà Huỳnh T3 cho ông L năm 2022; phía bên tay phải là căn nhà mái hiên khung sắt, lợp tôn (hiện nay là căn nhà xây dựng bằng gỗ diện tích 160m²) do Trần Thị H đang ở, quản lý.
Quá trình tham gia tố tụng, lời khai của người làm chứng bà Phan Thị Thu P trình bày:
Bà Phan Thị Thu P và bà Trần Thị H không có mối quan hệ gì, chỉ biết bà Trần Thị H là mẹ ruột của ông Đinh Chí L. Giữa bà P và ông Đinh Chí L là bạn học của nhau.
Khi bà P đến nhà ông Đinh Chí L tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương dự tiệc thì biết bị đơn bà Phan Thị Thiên N quan hệ là vợ của ông Đinh Chí L và hoàn toàn không có mối quan hệ gì.
Trên thực tế giữa bà P và bà Trần Thị H không có việc mua bán tài sản gì liên quan đến tranh chấp và mọi giao dịch dân sự thông qua ông Đinh Chí L, còn bà H là người thanh toán tiền cho bà P. Hình thức mua bán tài sản 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ (đánh số thứ tự 01 so với ảnh chụp) trị giá 15.000.000 đồng có nguồn gốc vào năm 2020 ông Đinh Chí L bán lại cho bà P. Còn 01 bộ bàn bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ) (đánh số thứ tự 03 so với ảnh chụp) giá 50.000.000 đồng; 02 tám ván gỗ lim giá trị 100.000.000 đồng có nguồn gốc của chồng bà P là ông Lưu Phi V mua của người khác vào năm 2020, giá trị bao nhiêu thì bà P không biết rõ. Đến năm 2021 thì bà P không có nhu cầu sử dụng nữa nên tìm người bán lại nên có hỏi ông Đinh Chí L thì ông L nói rằng mẹ của mình là bà Trần Thị Huỳnh M1 tìm mua tài sản này để sử dụng. Vì vậy, bà P đã đồng ý bán cho bà Trần Thị H 03 tài sản nêu trên thông qua ông Đinh Chí L, tuy nhiên người thanh toán tổng số tiền 165.000.000 đồng là bà Trần Thị H không phải là ông Đinh Chí L.
Lý do bà Phan Thị Thu P lập chứng cứ “Giấy mua bán tay” không ghi ngày tháng năm là khoảng thời gian ngày 13/6/2024, bà Trần Thị H yêu cầu bà P đến nhà của ông Đinh Chí L gần Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D để trao đổi nội dung tranh chấp tài sản với bà Phan Thị Thiên N và sau đó bà P đã viết “Giấy mua bán tay” về tài sản mà bà P đã bán cho ông Đinh Chí L như đã trình bày. Tuy nhiên, có sự nhầm lẫn về việc mua bán 01 bộ bàn ghế Sofa đối với bà H nhưng các nội dung khác là hoàn toàn đúng sự thật để cung cấp chứng cứ cho Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tài sản liên quan đến tranh chấp là 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch; 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây thì không liên quan gì đến bà P.
Quá trình tham gia tố tụng lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị Kim L1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim L1 và bà Trần Thị H không có mối quan hệ gì, chỉ biết bà Trần Thị H là mẹ ruột của ông Đinh Chí L.
Bà Nguyễn Thị Kim L1 không có mối quan hệ như thế nào đối với ông Đinh Chí L và bà Phan Thị Thiên N.
Từ năm 2019 đến năm 2023 bà L1 làm giúp việc gia đình cho ông Đinh Chí L ở căn nhà tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Căn nhà này được xây dựng thành 02 phần: Căn nhà cấp 4C và căn nhà xây dựng bằng gỗ nối liền phía trước căn nhà cấp 4C do vợ chồng ông Đinh Chí L và bà Phan Thị Thiên N đang ở. Còn căn nhà gỗ của bà Trần Thị H thì không nhớ rõ nhưng thời điểm năm 2019 thì căn nhà gỗ của bà H chưa được xây dựng chỉ có xây dựng mái che bằng khung sắt và tôn lạnh đến năm nào không rõ thì bà H mới tiến hành xây dựng căn nhà gỗ trên cùng mảnh đất với căn nhà của ông L, bà N đang ở. Vị trí mái che bằng khung sắt và tôn lạnh chính là căn nhà gỗ hiện nay của bà Trần Thị H đang quản lý.
Chứng cứ là 20 tấm ảnh chụp được đánh số thứ tự từ 01 – 22, có chữ ký tên của bà Trần Thị H mặt phía sau do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án liên quan đến tài sản tranh chấp là đúng, còn giá trị tài sản bao nhiêu thì bà L1 không biết. Về nguồn gốc tài sản là do bà Trần Thị H mua sắm để sử dụng trong căn nhà gỗ của bà Trần Thị H không phải là tài sản của bà Phan Thị Thiên N và ông Đinh Chí L. Lý do bà L1 biết rõ tài sản liên quan đến tranh chấp này do hằng ngày bà L1 là người dọn dẹp nhà cửa và lao chùi nên nhớ rất rõ vị trí, hình dạng tài sản này.
Quá trình tham gia tố tụng lời khai của người làm chứng ông Lưu Văn N3 trình bày:
Ông Lưu Văn N3 làm chở đồ thuê bằng xe gác máy 03 bánh ở khu vực thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Ông Lưu Văn N3 không có mối quan hệ gì và cũng không quen biết gì đối với ông Đinh Chí L, bà Phan Thị Thiên N, tuy nhiên hiện nay Tòa án giải thích nội dung vụ án tranh chấp thì biết người phụ nữ này tên là Phan Thị Thiên N cũng chính là người thuê ông Lưu Văn N3 chở thuê tài sản.
Hình ảnh người đàn ông mặc áo thun ngắn tay màu sám, quần vải màu đen trong nội dung Video và tấm ảnh chụp số thứ tự 07 là ông Lưu Văn N3. Hình ảnh người phụ nữ mặc váy quần jeans màu xanh, tay cầm giỏ sách màu đỏ tại tấm ảnh chụp đánh số thứ tự 07 là bà Phan Thị Thiên N là người thuê ông Lưu Văn N3 chở tài sản đồ gỗ. Toàn bộ tài sản thể hiện tại tấm ảnh chụp số thứ tự 01, 02, 03, 05, 06, 07, 08, 16, 18, 20 đúng là tài sản mà bà Phan Thị Thiên N thuê ông Lưu Văn N3 chở thuê.
Trong khoảng thời gian tết âm lịch Giáp Thìn (khoảng tháng 02 năm 2024, không nhớ rõ cụ thể ngày nào) thì bà Phan Thị Thiên N có thuê ông Lưu Văn N3 chở tài sản bằng xe ba gác 03 bánh là 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ; 01 bộ bàn ghế sofa bằng da; 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ; 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây từ nhà của bà Phan Thị Thiên N tọa lạc tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương về xã T. Trong quá trình thỏa thuận công việc giữa các bên thì phía bà Phan Thị Thiên N khẳng định đây là tài sản của mình về nhờ ông Lưu Văn N3 gọi thêm 02 xe ba gác máy 03 bánh, người phụ khiêng lên xe vì tài sản chở là đồ gỗ nặng và nhiều công phụ nên ông Lưu Văn N3 gọi bạn bè cùng chạy thuê được 03 xe và 04 người. Vị trí căn nhà của bà N là từ ngã tư K đi vào cầu S là đường nhựa, phía bên tay trái là nhà của N. Đi thẳng vào nhà thì phía bên tay trái là căn nhà cấp 4, còn phía bên tay phải là căn nhà xây dựng bằng gỗ, phần tài sản chở thuê nằm ở vị trí căn nhà xây dựng bằng gỗ.
Khoảng 15 giờ khi ông Lưu Văn N3 cùng mọi người có mặt tại nhà bà Phan Thị Thiên N thì cùng nhau khiêng 01 bộ bàn ghế bằng gốc, rể cây lên xe gác máy 03 bánh thì có một người phụ nữ hơn 60 tuổi (cũng là người cầm điện thoại quay toàn bộ nội dung V1 và hiện nay biết tên là Trần Thị H) đến ngăn cản không cho ông Lưu Văn N3 và mọi người chở tài sản đi và yêu cầu ông Lưu Văn N3 khiêng xuống trả lại vị trí cũ vì cho rằng đây là tài sản của mình không phải là tài của bà Phan Thị Thiên N. Vì vậy, ông Lưu Văn N3 và mọi người đồng ý khiêng xuống trả lại tài sản này, trong quá trình khiêng trả lại tài sản thì có Công an xã Đ xuống hiện trường kiểm tra, yêu cầu trả lại tài sản nhưng không có lập biên bản gì nên ông Lưu Văn N3 và mọi người không tiếp tục công việc thỏa thuận chở thuê nữa.
- Quá trình tham gia tố tụng lời khai của người làm chứng ông Lưu Phi V trình bày:
Ông Lưu Phi V và bà Phan Thị Thu P có mối quan hệ là vợ chồng nhưng đến ngày 07/02/2022 hai bên đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 22/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Bản thân ông V làm nghề thầu xây dựng, ngoài ra còn mua bán cây, sản phẩm đồ gỗ, nếu ai bán giá rẻ thì ông V mua lại, còn ai có nhu cầu sử dụng thì ông Vũ B lại để hưởng số tiền chênh lệch. Sau khi ly hôn tháng 02 năm 2022, thì toàn bộ tài sản (trong đó có tài sản liên quan đến tranh chấp) thì ông Vũ T4 cho bà P.
Ông V hoàn toàn không biết bà Trần Thị H và biết ông L là do ông Đinh Chí L làm giám đốc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Còn bà Phan Thị Thiên N cũng không biết.
Nguồn gốc tài sản tranh chấp gồm 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ (đánh số thứ tự 01 so với ảnh chụp) có nguồn là tài sản gia đình của ông V và bà P; còn 01 bộ bàn bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ) (đánh số thứ tự 03 so với ảnh chụp) là do ông Vũ T5 mua gỗ cây về nhờ thợ mộc làm hoàn thành sản phẩm bộ ghế với giá trị hơn 70.000.000 đồng; 02 tám ván gỗ lim là do ông V mua của người khác nhưng lâu quá không nhớ rõ bao nhiêu tiền, thời gian nào vì hiện nay trong nhà của ông V còn có rất nhiều đồ gỗ có giá trị khác.
Việc bà Phan Thị Thu P bán lại tài sản này cho bà Trần Thị H, có lần phía bà P có hỏi ý kiến của ông V về việc muốn bán 01 bộ bàn bộ bàn ghế gỗ (gỗ đỏ); 02 tấm ván gỗ lim thì ông V đồng ý, còn bán cụ thể cho ai thì ông V không biết và không có liên quan gì.
- Quá trình tham gia tố tụng lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Chiến T6 trình bày:
Cửa hàng T8 (viết tắt TTNT Như Tuyết) có địa chỉ tại số G, Đại lộ B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Chiến T6 là em ruột của bà Nguyễn Thị Như T7, sinh năm 1990 – là người đại diện theo pháp luật.
Cửa hàng T8 kinh doanh chuyên cung cấp các sản phẩm đồ gỗ và đồ bàn ghế kiếng cao cấp và hiện nay tình trạng hoạt động của Cửa hàng T8 đã ngừng hoạt động cách đây hơn 01 năm nay.
Chứng cứ là “Giấy xác nhận” ngày 02/12/2024 thể hiện nội dung ngày 18/11/2022, Cửa hàng T8 có bán 01 sản phẩm 01 bộ ghế Sofa có đặc điểm thể hiện tại “Bản báo giá” ngày 18/11/2022 có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Chiến T6 và bà Phan Thị Thiên N là người yêu cầu ông Nguyễn Chiến T6 lập theo ý kiến của bà N. Ông T6 khẳng định căn cứ vào chứng cứ 02 lần chuyển tiền thanh toán cho cửa hàng thì ông Đinh Chí L là người mua sản phẩm này và là người trực tiếp thanh toán số tiền này bằng hình thức chuyển vào số tài khoản của bà Nguyễn Thị Như T7 lần 01: Số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng); lần 02: Số tiền 15.300.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng).
Ngày 18/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nhận được “Đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt” ngày 02/12/2024 của ông Nguyễn Chiến T6 do bà Phan Thị Thiên N gửi bằng đường bưu chính ngày 16/12/2024. Chứng cứ này không phải chữ ký tên của ông Nguyễn Chiến T6. Ông Nguyễn Chiến T6 có ý kiến về việc bà Phan Thị Thiên N cung cấp chứng cứ “Đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt” ngày 02/12/2024 mà không phải là chữ ký tên của ông vì bà N cho rằng sẽ làm dùm cho ông Nguyễn Chiến T6 cái đơn vắng mặt để Tòa án không mời làm việc. Tuy nhiên bà N không có nói sẽ ký tên thay cho ông T6; vì vậy, việc bà N có hành vi tự ký tên thay cho ông T6 là không đúng pháp luật.
- Quá trình tham gia tố tụng lời khai của người làm chứng ông Hồ Văn N2 trình bày:
Giữa ông Hồ Văn N2 và gia đình bà Trần Thị H có quan hệ họ hàng. Dựa vào biên bản xem xét, thẩm định tài sản tranh chấp ngày 08/9/2024, ông N2 xác định tài sản 01 bộ bàn + ghế bằng cây Gõ; 01 bộ bàn ghế bằng gốc rễ cây là tài sản ông N2 tặng cho ông Đinh Chí L. Còn tài sản 01 bộ bàn ăn, ghế bằng gỗ và 02 tấm ván gỗ do không thấy nên không xác nhận được. Việc bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị Thiên N trả lại tài sản này là không có căn cứ vì đây không phải là tài sản của bà Trần Thị Huỳnh.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H đối với bị đơn bà Phan Thị Thiên N về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.
Buộc bà Phan Thị Thiên N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị H số tiền 117.620.000 đồng (một trăm mười bảy triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
2. Bà Phan Thị Thiên N được quyền quản lý, sử dụng tài sản tranh chấp gồm có:
- - 01 bộ bàn ghế sofa bằng da mua năm 2021.
- - 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch mua năm 2022.
- - 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ đỏ mua năm 2021 (chỉ có 01 cái bàn + 02 cái ghế).
(Hiện nay tài sản trên đang tồn tại ở vị trí diện tích 478,1m², thửa đất 709, tờ bản đồ số 22 tọa lạc tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương).
3. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H đối với bị đơn bà Phan Thị Thiên N về việc không tranh chấp tài sản là bộ bàn ăn, ghế gỗ; 01 bộ bàn ghế rễ cây và số tiền 66.380.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí định giá và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Phan Thị Thiên N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Bà Phan Thị Thiên N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị H số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
- Bà Phan Thị Thiên N được quyền sở hữu, quản lý và sử dụng các tài sản tranh chấp gồm có:
- + 01 bộ bàn ghế sofa bằng da mua năm 2021.
- + 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch mua năm 2022.
- + 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ đỏ mua năm 2021 (chỉ có 01 cái bàn + 02 cái ghế).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án đối với phần kháng cáo, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Xét, thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét sửa bản án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận của các đương sự.
- Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn là có căn cứ chấp nhận.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
- Về chi phí tố tụng: chi phí định giá với số tiền 2.000.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu, được khấu trừ vào nộp tạm ứng đã nộp (đã thực hiện xong).
- Án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải theo quy định tại Điều 147, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Thiên N phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 296, Điều 300 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo bị đơn bà Phan Thị Thiên N.
2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, như sau:
2.1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Bà Phan Thị Thiên N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị H số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bà Phan Thị Thiên N được quyền sở hữu, quản lý và sử dụng các tài sản tranh chấp gồm có:
- + 01 bộ bàn ghế sofa bằng da mua năm 2021.
- + 01 tivi hiệu Sam Sung 75 inch mua năm 2022.
- + 01 bộ bàn ghế bằng cây Gõ đỏ mua năm 2021 (chỉ có 01 cái bàn + 02 cái ghế).
(Hiện nay tài sản trên đang tồn tại ở vị trí diện tích 478,1m², thửa đất 709, tờ bản đồ số 22 tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương).
2.2. Chi phí tố tụng: chi phí định giá với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Nguyên đơn bà Trần Thị Huỳnh tự N4 chịu, được khấu trừ vào nộp tạm ứng đã nộp (đã thực hiện xong).
2.3. Án phí sơ thẩm:
Bà Phan Thị Thiên N phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Thiên N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0007298 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |
Bản án số 291/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 291/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận
