Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 291/2025/DS-PT

Ngày 14-4-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu

cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán:Ông Đặng Văn Ý
Ông Vương Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 822/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 532/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1944; Hộ khẩu thường trú: 286/5 B, T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).

  2. Bà Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y), sinh năm 1953; địa chỉ: S, Hoa Kỳ; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bà H, bà Y: Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1983 và ông Hà Mạnh H2, sinh năm 2000. Cùng địa chỉ: Lầu D số B Đ, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1965; địa chỉ: Số A, L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N: Luật sư Nguyễn Thế T1 – Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh T; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh; (xin vắng mặt).

  2. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1955, địa chỉ: Số A, L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh T2: bà Nguyễn Thanh Tường V, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số A, L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

  1. Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1992; (có mặt).

  2. Chị Nguyễn Thanh Tường V, sinh năm 1994; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số A, L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

- Người kháng cáo: ông bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y) là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 4 năm 2024, các lời khai tại Tòa án ông Nguyễn Công B (đại diện nguyên đơn) trình bày:

    Bà H, bà Y khởi kiện bà N, yêu cầu Toà án không công nhận bà N có quyền sử dụng đất, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số H 0264/02 ngày 19-6-2007 do Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện H đã cấp cho ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị Kim N và cấp lại cho các nguyên đơn cùng đứng tên, buộc bà N trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích nêu trên cho bà H, bà Y, ông T2. Cụ thể như sau:

    Cụ Nguyễn Thành D1 (chết 1983), cụ Lê Thị T3 (chết năm 1989). Cụ D1, cụ T3 có 05 người con gồm: bà Nguyễn Thị Cẩm H; bà Nguyễn Thị Cẩm Y; ông Nguyễn Thanh T2, ông Nguyễn Thanh B1 và ông Nguyễn Thanh H3.

    Lúc còn sống hai cụ có tạo được tài sản gồm: 01 phần đất có diện tích 1.153,4 m², thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh (nay là số A, đường L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh), trên đất có 01 căn nhà cấp 4 của hai cụ. Cụ Tôi được Sở Xây dựng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Nhà đất hiện bà N và ông T2 đang quản lý. Hai cụ không để lại di chúc.

    Nguyên nhân tranh chấp: năm 2007, anh em ruột của ông T2 gồm: bà H, bà Y, ông T2, ông H3 và ông B1 phân chia thừa kế phần đất trên; theo đó ông B1 có đơn từ chối nhận di sản, ông H3 tặng cho ông T2 phần hưởng, bà Y, bà H, ông T2 nhận di sản. Ngày 18/4/2007, bà H, bà Y lập “Tờ ưng thuận” giao cho ông T2 đại diện hai bà đứng tên GCNQSDĐ. Năm 2023, bà H phát hiện bà Nguyễn Thị Kim N (vợ ông T2) cùng đứng tên giấy đất này với ông T2. Cho rằng, phần đất và nhà nêu trên là tài sản chung của anh em ông T2, việc bà N cùng đứng tên là không đúng.

    Ngày 28/3/2024, bà H khởi kiện yêu cầu UBND phường H hoà giải. Tại cuộc hoà giải thì bà N đồng ý trả lại đất nhưng sau đó không đồng ý.

    Tại phiên toà ông B trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của bà H, bà Y. Yêu cầu bà N phải trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho chị em bà H; trong đó bà H, bà Y được sử dụng chung ½ diện tích, ông T2 sử dụng ½ diện tích. Ông T2 đồng ý trả lại phần đất ông H3 đã tặng cho ông. Bà H, bà Y đồng ý bồi thường giá trị tài sản trên đất cho bà N số tiền 248.000.000 đồng. Hiện ông B chấm dứt uỷ quyền đối với ông T2.

  2. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:

    Về họ tên cha mẹ chồng và họ tên anh em bên chồng như lời trình bày của đại diện nguyên đơn là đúng.

    Bà và ông Nguyễn Thanh T2 kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn, có 02 người con chung là Nguyễn Thanh D, sinh năm 1992, Nguyễn Thanh Tường V, sinh năm 1994, hiện nay còn sống chung nhà với bà. Bà và ông T2 vẫn còn đang sống chung (chưa ly hôn) nhưng từ tháng 3-2024 ông T2 xuống nhà bà H sống.

    Đối với phần nhà đất mà nguyên đơn khởi kiện thì khi về chung sống với ông T2 năm 1991 cha mẹ chồng đã chết, vợ chồng bà cùng sinh sống trên đất này. Năm 2007, vợ chồng bà làm thủ tục đăng ký và được cấp GCNQSDĐ do anh chị em chồng từ chối nhận di sản mà để lại cho ông T2 được quyền sở hữu, sử dụng di sản thừa kế của cha mẹ. Tại Biên bản hoà giải ngày 28/3/2024 bà có trình bày là bà không phải là người hưởng thừa kế của bên chồng nên có đồng ý trả lại đất.

    Nay bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi vì: đất này là thừa kế riêng của chồng bà. Ông T2 đã đồng ý nhập vào tài sản chung của vợ chồng, giấy đất do nhà nước cấp cho bà và ông T2 đúng trình tự, thủ tục.

  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

    - Anh Nguyễn Thanh D, chị Nguyễn Thanh Tường V trình bày: thống nhất với lời trình bày của bà N và có cùng nguyện vọng.

    - Tại Bản tự khai ngày 02/5/2024, ông Nguyễn Thanh T2 trình bày: thống nhất với lời trình bày của bà H, bà N. Đất này là tài sản riêng của ông, bà H, bà Y, việc ông cho bà N cùng đứng tên giấy đất là không đúng, yêu cầu bà N trả lại quyền sử dụng đất cho bà H, bà N mỗi người ¼ diện tích và công nhận ông đứng tên sử dụng ½ diện tích.

    - Tại Công văn số 1144/UBND ngày 23/8/2024 của UBND thị xã H trình bày ý kiến: ông Nguyễn Thanh T2 sử dụng đất có nguồn gốc của cha mẹ từ năm 1989. Quá trình sử dụng ổn định, không tranh chấp. Căn cứ vào hồ sơ, Tờ khai xác định mốc thời gian sử dụng đất, Đơn xin cấp giấy ngày 05/3/2007 của ông Nguyễn Thanh T2. Hội đồng đăng ký đất đai xã H (nay là phường H) tổ chức xét duyệt, niêm yết công khai và đề nghị cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Thanh T2. Trong đơn xin cấp giấy chứng nhận ông T2 ghi tên vợ là Nguyễn Thị Kim N, có xác nhận của UBND xã H ngày 20/3/2007. Ngày 23/7/2007, Phòng T5 kiểm tra hồ sơ xác nhận đủ điều kiện cấp giấy và đề nghị UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Thanh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N diện tích 1.153,4 m², thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 10, mục đích sử dụng: 400 m² đất ở nông thôn; 753,4 m² đất trồng cây lâu năm (CLN). Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Thanh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật nên không đồng ý việc khởi kiện yêu cầu của nguyên đơn về huỷ GCNQSDĐ số H 02364/02 ngày 19-6-2007 do UBND huyện H đã cấp cho ông T2, bà N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà, Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y) về yêu cầu không công nhận bà Nguyễn Thị Kim N có quyền sử dụng đất và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02364/02 ngày 19-6-2007 do UBND huyện H đã cấp cho ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị Kim N đối với diện tích đất 1.153,4 m², thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh (nay là số A, Đường L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh).

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà, Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y) về tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2;

    1. Buộc bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2, anh Nguyễn Thanh D, chị Nguyễn Thanh Tường V phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y) được sử dụng diện tích đất 527,3 m² (trong đó đất ở 200 m², CLN 327,3 m²) thuộc một phần thửa số 11, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh; (nay là số A, Đường L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh) và bà H, bà Y được sở hữu tài sản trên đất gồm: 01 phần căn nhà cấp 4 (nhà phụ) diện tích 57,6 m², 01 cây khế (10 năm tuổi), có sơ đồ kèm theo. Đất có tứ cận:

      • - Đông giáp Đường L, dài 9,7 m;
      • - Tây giáp đất khu du lịch Bàu C, dài 9,7 m;
      • - Nam giáp phần còn lại thửa 11 (giao ông T2, bà N), dài 52,74 m;
      • - Bắc giáp thửa 97 (tờ bản đồ số 4) dài 19,90 m; 33,11 m.
    2. Buộc bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2 phải có nghĩa vụ tháo dỡ và di chuyển ra khỏi phần đất giao cho bà H, bà Y (nêu tại mục 2.1 trên) các loại tài sản sau: 02 nhà tạm (quán nước) kết cấu khung sắt nhà tiền chế, không vách, mái lợp lá diện tích 134 m² (ngang 9,7 dài 15,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 29,5 m² (ngang 4,8 m x dài 6,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 58,4 m² (có sơ đồ kèm theo).

    3. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, Nguyen Camy T (bà Nguyễn Thị Cẩm Y) có nghĩa vụ bồi thường giá trị tài sản buộc tháo dỡ là 01 quán tạm sử dụng kết cấu khung sắt nhà tiền chế, mái lợp lá diện tích 134 m² (ngang 9,7 dài 15,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 29,5 m² (ngang 4,8 m x dài 6,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 58,4 m² và 01 cây khế cho bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2 trị giá thành tiền 34.351.000 (ba mươi bốn triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.

      Kể từ ngày ông T2, bà N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H, bà Y không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng bà H, bà Y còn phải trả cho ông T2, bà N số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    4. Phần đất còn lại trong thửa 11, tờ bản đồ số 10 diện tích 626,1 m² (trong đó đất ở 200 m², CLN 421,1 m²) hiện ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị Kim N đang quản lý và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02364/02 ngày 19-6-2007, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 (nhà chính) diện tích 109 m², 01 phần căn nhà phụ gắn liền với nhà chính 79,9 m², 01 căn gác lửng 69,7 m² và toàn bộ cây lâu năm phía sau nhà phụ giao ông T2, bà N tiếp tục quản lý, sử dụng; nếu có tranh chấp giải quyết bằng vụ án khác.

      Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào quyết định của bản án này điều chỉnh một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02364/02 ngày 19/6/2007 ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị Kim N đứng tên và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, bà Y (được sử dụng chung) theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng; nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 24/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh nhận được đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị Cẩm Y, kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị Cẩm Y.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị Cẩm Y là nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, về yêu cầu chia di sản ½ cho bà H, bà Y và cấp lại giấy chứng nhận cho bà H, bà Y mỗi người ¼ diện tích và ông T2 ½ diện tích, không yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất mà vẫn để cho ông T2, bà N quản lý để ở, chỉ yêu cầu khởi kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T2 và bà N, việc tranh chấp thừa kế nếu có sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác và giữ phần kháng cáo sửa án sơ thẩm. Về quyền sử dụng đất thửa 11 diện tích 1.153,4m² là di sản của cụ D1 và cụ T3 để lại, sau khi phân chia anh chị em đều có ý kiến về di sản phần còn lại là của bà H, bà Y và ông T2 nhận di sản. Bà H, bà Y lập tờ ưng thuận để ông T2 đứng tên, việc ông T2 cho bà N cùng đứng tên là không đúng pháp luật, yêu cầu Tòa án xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T2 và bà N.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh Tường V nhờ Luật sư trình bày thay.

Luật sư Nguyễn Thanh T2 trình bày: Thống nhất việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nếu có tranh chấp di sản thừa kế sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Đối với kháng cáo yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T2 và bà N thì bị đơn không đồng ý do quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận được Ủy ban nhân dân huyện H cấp đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ y án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh D trình bày: Thống nhất ý kiến của bị đơn, không bổ sung.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nội dung: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết vụ án, hủy một phần bản án sơ thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Thanh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N, nhận thấy ông T2 được hưởng 2 suất thừa kế di sản một phần của ông T2 và một phần của ông H3 tặng cho ông T2; bà H, bà Y lập tờ ưng thuận để ông T2 đứng tên, ông Tân lập thủ tục khai nhận di sản thừa kế và tự nguyện đưa bà N cùng đứng tên là tự nguyện nhập tài sản chung vợ chồng và trình tự thủ tục do Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy cho ông T2, bà N là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H, Nguyễn Thị Cẩm Y được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự vắng mặt và xin vắng mặt đã được tống đạt hợp lệ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà H, bà Y xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 03/4/2024 yêu cầu đòi trả lại quyền sử dụng đất cho 3 người thừa kế gồm bà H, bà Y và ông T2, về yêu cầu chia di sản ½ cho bà H, bà Y và cấp lại giấy chứng nhận cho bà H, bà Y mỗi người ¼ diện tích và ông T2 ½ diện tích, không yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất, việc tranh chấp thừa kế nếu có sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác, chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T2, bà N. Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập và tại phiên tòa bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, việc rút yêu cầu là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi kiện, đình chỉ việc giải quyết vụ án và hủy một phần bản án sơ thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị Cẩm Y là nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Cha mẹ của nguyên đơn và bị đơn là cụ Nguyễn Thành D1 (chết 1983), cụ Lê Thị T3 (chết năm 1989). Lúc còn sống hai cụ có tạo được tài sản gồm: 01 phần đất có diện tích 1.153,4 m², thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh (nay là số A, đường L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh), trên đất có 01 căn nhà cấp 4 của hai cụ. Cụ Tôi được Sở Xây dựng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, Nhà đất hiện bà N và ông T2 đang quản lý, hai cụ chết không để lại di chúc. Cụ D1, cụ T3 có 05 người con gồm: bà Nguyễn Thị Cẩm H; bà Nguyễn Thị Cẩm Y; ông Nguyễn Thanh T2, ông Nguyễn Thanh B1 và ông Nguyễn Thanh H3. Năm 2007, anh chị em ruột của ông T2 gồm: bà H, bà Y, ông T2, ông H3 và ông B1 phân chia thừa kế phần đất trên: ông B1 có đơn từ chối nhận di sản, ông H3 tặng cho ông T2 phần hưởng; bà Y, bà H, ông T2 nhận di sản. Ngày 18/4/2007, bà H, bà Y lập “Tờ ưng thuận” giao cho ông T2 đại diện hai bà đứng tên GCNQSDĐ. Căn cứ theo Điều 215 Bộ luật Dân sự năm 2005 xác lập quyền sở hữu chung quy định “1. Sở hữu chung được xác lập theo thỏa thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán” như vậy, di sản thừa kế của cụ D1 và cụ T3 được các con thuộc hàng thừa kế thứ nhất định đoạt thuộc quyền sử dụng chung của ông T2, bà H và bà Y do ông T2 đại diện đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.2] Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02364/02 do UBND huyện H (nay là thị xã H) ngày 19/6/2007, cấp cho ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị Kim N đứng tên là không đúng, bởi lẽ: Căn cứ theo Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật” việc ông T2 tự ý kê khai bà Nguyễn Thị Kim N cùng đứng tên trong Đơn xin cấp GCNQSDĐ (BL93) khi chưa có sự đồng ý của những người thừa kế (bà H, bà Y), và bà N cũng không phải là người được hưởng di sản thừa kế của cụ D1 và cụ T3 nên việc Ủy ban nhân dân xã H và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T5 xác nhận và Biên bản xét duyệt ngày 30/3/2007 của Hội đồng đăng ký đất xã H (BL 84) xét duyệt hồ sơ cấp quyền sử dụng cho ông T2 và bà N là không có cơ sở. Đồng thời, theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 3 Quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban hành kèm theo Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ T6 quy định: “Trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất mà có nhiều người được thừa kế theo pháp luật nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa xác định được đầy đủ những người đó thì cấp một (01) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích để thừa kế. Việc cử người đại diện ghi tên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải bằng văn bản thỏa thuận của những người được thừa kế quyền sử dụng đất đã xác định theo pháp luật có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước. Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “Người đại diện là”, sau đó ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đại diện, tiếp theo ghi “cùng với những người nhận thừa kế có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; lập danh sách những người khác được nhận thừa kế quyền sử dụng theo pháp luật đã được xác định, cuối danh sách được ghi "và một số người thừa kế khác chưa được xác định”; danh sách những người được nhận thừa kế đã được xác định lập theo Mẫu số 01-GCN ban hành kèm theo Quy định này. Tại Mục VI (Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trên trang bổ sung của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi: “Chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận cho ông T2 và bà N trong Giấy chứng nhận ghi không đúng tên và nội dung “Người đại diện” và “danh sách những người thừa kế”, không phù hợp với hồ sơ cấp giấy do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T cung cấp (BL 82, 83, 85, 86). Do đó, bà H, bà Y khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Thanh T2 và bà Nguyễn Thị Kim N không đúng đối tượng, trái pháp luật là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông T2 được bà H, bà Y có văn bản đồng ý giao đất cho ông T2 đứng tên hộ nên ông T2 có quyền cho người khác cùng đứng tên, đây là việc ông T2 đồng ý nhập tài sản thừa kế riêng vào tài sản chung vợ chồng là không đúng pháp luật nên việc bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không có căn cứ.

[2.3] Đối với bà N cho rằng có công sức trong việc quản lý, gìn giữ di sản và việc ông Tân nhập phần di sản thừa kế riêng vào tài sản chung của vợ chồng nhưng do các bên không có tranh chấp phân chia di sản thừa kế, tranh chấp tài sản chung nên không thuộc thẩm quyền xem xét giải quyết trong vụ án này, các bên đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu phát sinh tranh chấp.

[3] Từ các phân tích và nhận định nêu trên, thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện là chưa đúng pháp luật; nguyên đơn kháng cáo có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án và hủy một phần bản án sơ thẩm, bác kháng cáo phần còn lại giữ y án sơ thẩm có một phần đề nghị không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận một phần đề nghị.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Cẩm H, Nguyễn Thị Cẩm Y không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Án phí hành chính sơ thẩm: Buộc Ủy ban nhân dân thị xã H phải chịu 300.000đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 299; khoản 2, khoản 4 Điều 308, Điều 148, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y). Hủy một phần bản án sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và Đình chỉ việc giải quyết vụ án, đối với:

    1. Buộc bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2, anh Nguyễn Thanh D, chị Nguyễn Thanh Tường V phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y) được sử dụng diện tích đất 527,3 m² (trong đó đất ở 200 m², CLN 327,3 m²) thuộc một phần thửa số 11, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh; (nay là số A, Đường L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh) và bà H, bà Y được sở hữu tài sản trên đất gồm: 01 phần căn nhà cấp 4 (nhà phụ) diện tích 57,6 m², 01 cây khế (10 năm tuổi), có sơ đồ kèm theo. Đất có tứ cận:

      • - Đông giáp Đường L, dài 9,7 m;
      • - Tây giáp đất khu du lịch Bàu C, dài 9,7 m;
      • - Nam giáp phần còn lại thửa 11 (giao ông T2, bà N), dài 52,74 m;
      • - Bắc giáp thửa 97 (tờ bản đồ số 4) dài 19,90 m; 33,11 m.
    2. Buộc bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2 phải có nghĩa vụ tháo dỡ và di chuyển ra khỏi phần đất giao cho bà H, bà Y (nêu tại mục 2.1 trên) các loại tài sản sau: 02 nhà tạm (quán nước) kết cấu khung sắt nhà tiền chế, không vách, mái lợp lá diện tích 134 m² (ngang 9,7 dài 15,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 29,5 m² (ngang 4,8 m x dài 6,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 58,4 m² (có sơ đồ kèm theo).

    3. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, Nguyen Camy T (bà Nguyễn Thị Cẩm Y) có nghĩa vụ bồi thường giá trị tài sản buộc tháo dỡ là 01 quán tạm sử dụng kết cấu khung sắt nhà tiền chế, mái lợp lá diện tích 134 m² (ngang 9,7 dài 15,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 29,5 m² (ngang 4,8 m x dài 6,5 m), 01 mái che khung sắt tiền chế diện tích 58,4 m² và 01 cây khế cho bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Thanh T2 trị giá thành tiền 34.351.000 (ba mươi bốn triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.

  2. Chấp nhận kháng cáo bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyen Camy T (Nguyễn Thị Cẩm Y). Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

    1. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02364/02 ngày 19-6-2007 do UBND huyện H đã cấp cho ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị Kim N đối với diện tích đất 1.153,4 m², thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh (nay là số A, Đường L, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh).

    2. Buộc Ủy ban nhân dân thị xã H thực hiện nhiệm vụ, công vụ cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

      Bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyễn Thị Cẩm Y và ông Nguyễn Thanh T2 có quyền và nghĩa vụ đăng ký kê khai cấp lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyễn Thị Cẩm Y (Nguyễn Camy T4) không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm, số tiền tạm ứng án phí của bà Nguyễn Thị Cẩm Y đã nộp 300.000đ được hoàn trả theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000521 cùng ngày 02/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

    Án phí hành chính sơ thẩm: Buộc Ủy ban hân dân thị xã H phải chịu 300.000đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

  4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • - tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA, VTLT (20b-TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 291/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Cẩm H kiện Nguyễn Thị KIm N "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger