Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 291/2024/HSST

Ngày: 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Quản

2/ Ông Huỳnh Hữu Tường

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 397/2024/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1709/2024/HSST-QĐ ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T (T bu), Giới tính: Nam; Sinh năm 1979; Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 4/101 đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không.Con ông: Nguyễn Văn G; Con bà: Lê Thị H; hoàn cảnh gia đình: Vợ, con: Chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  1. Ngày 30/9/1997, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 1815/HSST. Qua xác minh, ngày 18/10/2010 đã thi hành xong việc nộp án phí hình sự, riêng phần bồi thường dân sự qua xác minh không có thông tin thi hành án.
  2. Ngày 16/01/1998, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/HSST. Qua xác minh không có thông tin về khoản án phí phải thi hành. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/8/1998.
  3. Ngày 05/6/1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 1042/HSST. Qua xác minh,

không có thông tin về việc thi hành án dân sự của Nguyễn Văn T. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2002.

  1. Ngày 05/12/2016, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 295/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2018, đã nộp xong án phí, không còn khoản phải thi hành nào khác.
  2. Ngày 21/8/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 1108/QĐ. Đã chấp hành xong ngày 30/8/2004.

Bị tạm giam từ ngày 08/6/2024 (Bl 59; 61) - (Có mặt).

*Người bị hại:

1/ Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1992.

2/ Chị Cao Thị T2, sinh năm 1994.

HKTT: 21/1B, Quốc lộ A, phường H, Tp ., TP . Hồ Chí Minh.

Trú tại: 1, đường T, tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, TP . Hồ Chí Minh - (Có mặt).

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hồ Ngọc A, 1985.

Trú tại: 7, tổ B, ấp C, xã N, huyện H, Tp . - (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn T nảy sinh ý định thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 03/11/2023, T ở nhà trọ tại địa chỉ số A đường A, Ấp B, xã B, huyện C sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo A5 gọi điện thoại cho Hồ Ngọc A là người hành nghề chạy xe ôm. T nói Ngọc A đến chân cầu R, xã B, huyện C để đón T và chở đến cầu R, phường T, Quận A. Sau khi đến cầu R thì Ngọc A đi về, còn T xuống xe đi bộ lòng vòng tại khu vực phường T, Quận A tìm nhà có tài sản sơ hở để trộm cắp.

Đến khoảng 01 giờ ngày 04/11/2023, khi đi đến nhà số A đường T, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A. T nhìn thấy cửa trên lầu 01 không khóa nên leo qua hàng rào lên đột nhập vào nhà rồi đi vào phòng ngủ. Tại đây, T thấy vợ chồng ông Nguyễn Quốc T1 và bà Cao Thị T2 đang ngủ, tại sàn nhà phòng ngủ để 02 điện thoại di động hiệu Samsung A32 và S. T lấy bỏ vào túi áo khoác đi bộ ra ngoài thì bị anh T1 và chị T2 phát hiện truy hô nên T bỏ chạy. T nhảy từ lầu 01 xuống đất làm chân bị thương bàn chân bên phải, nhưng T vẫn bỏ chạy bộ ra hướng cầu Đ, phường T để lẩn trốn. Do chân bị đau nên T dùng điện thoại di động hiệu Oppo A5 điện thoại cho Ngọc A đến đón T về. Trong lúc trốn và chờ Ngọc A, điện thoại di động của T vừa trộm được bỏ trong túi áo khoác bị rơi ra ngoài và đổ chuông nên lực lượng Công an cùng ông T1 phát hiện truy đuổi, vật lộn với T. Lúc này, T vùng ra được rồi bỏ chạy và nhảy xuống sông bơi tẩu thoát

nên làm rơi tại hiện trường 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 của T và điện thoại hiệu SamSung A32 do T trộm được. Còn 01 điện thoại di động SamSung A23 trong lúc tẩu thoát T đã làm rơi mất. Sau khi xảy ra sự việc, chị Cao Thị T2 đến Cơ quan Công an trình báo. Quá trình điều tra truy xét, ngày 05/06/2024 Công an Q đưa Nguyễn Văn T về làm việc, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được (bút lục 88-90, 101-103, 104-107).

Bản cáo trạng 304/CT-VKS.Q12, ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố: Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là 02 điện thoại di động. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Quốc T1 và chị Cao Thị T2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 3.100.000 đồng. Chị T2 đề nghị xử nghiêm đối với bị cáo T.

Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Do lười lao động, cần tiền tiêu xài, khoảng 01 giờ ngày 04/11/2023, tại địa chỉ số A đường T, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A. Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 điện thoại di động hiệu Samsung A32 và S A23 anh Nguyễn Quốc T1 và chị Cao Thị T2 rồi tẩu thoát.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm tội theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự

Về trách nhiệm hình sự:

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23 đã qua sử dụng, trị giá 3.100.000 đồng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32, màu đen, số Imei 1: 35685255446485, số Imei 2: 358934995446489, số S: RF8R409HNXL trị giá 3.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 6.700.000 đồng (bút lục 38, 39, 40).

Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 6.700.000 đồng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự truy tố Nguyễn Văn T là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 1997 bị Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 1998, Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 1999, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2016, Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2002, Ủy ban nhân dân Thành phố H đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng.

Bị cáo được đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị thương tổn bị gãy xương mu bàn chân trong quá trình tẩu thoát ..... nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • Đối với điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A32, anh Nguyễn Quốc T1 đã nhận lại, không có yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với điện thoại di động hiệu Samsung A23, bị cáo T làm rơi trong quá trình tẩu thoát, không thu hồi được. Tại cơ quan điều tra (bút lục 46, 184-185)

và tại phiên tòa, anh Nguyễn Quốc T1, chị Cao Thị T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 3.100.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường.

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, số IMEI 1: 860169041418098, số IMEI 2: 860169041418080, số S: 7C6D1E69 (điện thoại di động của T bỏ lại). (bút lục số 161). Tại phiên tòa bị cáo khai nhận dùng điện thoại trên liên hệ với anh Hồ Ngọc A là xe ôm đến đón nhằm mục đích tẩu thoát, vì vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với Hồ Ngọc A là người chạy xe ôm, không biết việc T thuê chở đến phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an Q không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hồ Ngọc A là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, số IMEI 1: 860169041418098, số IMEI 2: 860169041418080, số S: 7C6D1E69 (điện thoại di động của T bỏ lại)

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 269/QĐ-VKS ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 3.100.000 đồng, người bị hại anh Nguyễn Quốc T1 và chị Cao Thị T2 là người nhận.

Kể từ người bị hại có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi chậm trả tương đương với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại

Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.00 đồng và án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01)
  • - VKSND Quận 12; (02)
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; (01)
  • - THADS Quận 12; (02)
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01)
  • - Công an Quận 12; (02)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (01)
  • - Bị cáo; (01)
  • - Người tham gia tố tụng khác;(03)
  • - Lưu hồ sơ vụ án. T 23. (05)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Văn Nhất

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 291/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger