|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HSST Ngày: 29-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Úy – Phó Trưởng Phòng giáo dục huyện Nga Sơn.
- Bà Mai Thị Bình – Cán bộ Tư pháp xã Nga Tiến, huyện Nga Sơn.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 26/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024 đối với bị cáo:
Phạm Đình D - Sinh năm 1997 - KHTT: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình K và bà Trần Thị T; có vợ là Nguyễn Quỳnh T1 và có 01 con (03 tháng tuổi); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/4/2024 đến nay - Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
- Cháu Trần Tuấn N - Sinh năm 2010 - Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Anh Mai Thế C – Sinh năm 1998 – Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Anh Phạm Đình K – Sinh năm 1972 – Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Có mặt.
- Chị Nguyễn Quỳnh T1 – Sinh năm 1999 – Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Anh Mai Sỹ N1 – Sinh năm 1984 - Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu N: Anh Trần Văn L – Sinh năm 1979 - Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/4/2024, Phạm Đình D ở thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào mạng xã hội xem Tiktok thì thấy có quảng cáo bán pháo hoa nổ Quốc phòng sản xuất. Do đến ngày 06/4/2024, gia đình D tổ chức cưới vợ cho em trai là anh Phạm Đình H nên D đã đặt mua 01 dàn pháo nổ với giá 600.000 đồng, mục đích để nổ, mừng đám cưới của em trai. Khi shipper chuyển hàng đến, do không được kiểm hàng nên D thanh toán tiền cho họ theo đơn hàng đã đặt rồi mang vào nhà cất mà không mở ra xem.
Ngày 06/4/2024, gia đình D tổ chức cưới vợ cho anh Phạm Đình H là em trai của D. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, trong lúc người thân, bạn bè, khách mời đi lên nhà thờ giáo xứ L1, xã N để tổ chức lễ cưới cho em trai. Do muốn tạo bất ngờ và niềm vui trong đám cưới lúc em trai dẫn cô dâu về nhà, D đã lấy hộp pháo mình cất trước đó, mở ra thấy 01 dây pháo dài khoảng 05m, được kết cấu với nhau bởi những cuộn giấy, màu đỏ, hình trụ nhỏ dài bằng đầu điếu thuốc lá (dài khoảng 02- 03cm, đường kính 0,5cm). D dùng dao cắt ra làm 02 đoạn khác nhau rồi buộc dây để treo lên hai xà ngang của rạp, dùng đề giăng bạt tránh mưa, ở ngay cổng trên phần đất của gia đình D, cách mép đường liên xã 3m.
Khi treo hai dây pháo, do một mình không thể treo được nên khi nhìn thấy Trần Tuấn N, sinh ngày 05/02/2010 (con anh L ở cùng thôn- hàng xóm đối diện nhà D) đang đứng bên đường, D gọi nói với N “Kéo dây này lên cho anh”. Nghe D nói như vậy, N đi đến cầm 01 đầu dây, đầu còn lại Dương cầm, cùng nhau treo pháo qua xà ngang. Sau khi treo xong, N đi sang phía bên kia đường, đối diện với rạp đám cưới ngồi chơi cùng mọi người, còn D đứng đợi cô dâu chú rể về. Tuy nhiên, được một lúc thì dây pháo ở cột cổng rạp (cột bên phía nam) bị rơi xuống đất. Lúc này, anh Mai Thế C, sinh năm 1998 (trú tại Thôn H, xã N), là bạn của chú rể, đến dự đám cưới, nhìn thấy dây pháo bị tuột đã đi đến cùng Dương buộc, treo lại dây pháo lên xà ngang về vị trí ban đầu rồi C đi sang đường đối diện với rạp đám cưới chờ cô dâu, chú rể về.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, chú rể dẫn cô dâu chuẩn bị tiến vào rạp cưới, D đứng đợi và dùng bật lửa của mình đã chuẩn bị trước đó, đốt vào 02 đầu dây pháo đã chuẩn bị sẵn, cho nổ pháo, kéo dài khoảng 40 giây thì tắt.
Do có tiếng pháo nổ tại đám cưới nên quần chúng nhân dân đã phản ánh đến Công an xã N. Ngay sau khi nhận được tố giác, Công an xã N đã đến hiện trường, ghi nhận vụ việc và thu giữ (mười hai) mẫu giấy cuộn màu đỏ, rỗng ruột, kích thước mỗi cuộn dài 2.5cm; đường kính 0.5cm và niêm phong theo quy định của pháp luật.
Sau thời gian xác minh ban đầu, xác định vụ việc có dấu hiệu của tội Gây rối trật tự công cộng nên ngày 09/4/2024, Công an xã N đã chuyển hồ sơ cùng tang vật có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 09/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Quyết định số 136 và 137/QĐ- ĐTTH, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T giám định mẫu xác (vỏ) pháo gửi giám định có phải có phải là xác pháo nổ không? Nếu là xác pháo thì là xác của loại pháo nào, có nằm trong danh mục Nhà nước cấm hay không; giám định hình ảnh, video thu được có liên đến vụ gây rối trật tự công cộng, xảy ra ngày 06/4/2024 tại Thôn G, xã N, huyện N.
Tại Bản kết luận giám định số 1531/KL- KTHS, ngày 15/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: 12 (mười hai) vật cuộn bằng giấy màu đỏ, mỗi vật dài 2,5cm, bên trong lòng vật rỗng và bám dính các chất màu xám của phong bì niêm phong gửi giám định đều là xác (vỏ) của loại pháo nổ. Tổng trọng lượng số xác (vỏ) pháo trên là 02g (không hai gam).
Tại Bản kết luận giám định số 1570/KL- KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- + Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 USB gửi giám định;
- + Trích xuất mô tả một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định (gồm 08 ảnh trong 04 tờ giấy A4).
Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bởi chữ ký ghi rõ họ tên Trần Nam G, Phạm Ngọc K1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T, hiện đang được Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ, bảo quản chờ xử lý.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 22/CT-VKSNS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Đình D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS để xử phạt bị cáo Phạm Đình D từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bởi chữ ký ghi rõ họ tên Trần Nam G, Phạm Ngọc K1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng là anh Phạm Đình K và anh Mai Sỹ N1 không trực tiếp nhìn thấy bị cáo treo pháo và đốt pháo, chỉ đến khi pháo nổ xong mới biết và nhìn thấy xác pháo ở trên đất. Tại thời điểm đó, đám cưới có khoảng 40 - 50 người.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh: Nhận thức được việc đốt pháo nổ là trái với quy định của Nhà nước nhưng vì muốn chúc mừng ngày cưới của em trai mình, Phạm Đình D đã đặt mua 01 dây pháo dài khoảng 05m qua mạng xã hội facebook mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, khi đón cô dâu, chú rể từ Nhà thờ về nhà mình ở thôn G, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, D đã lấy dây pháo cắt làm đôi, treo lên thanh xà ngang ở cổng rạp đám cưới, giáp với đường liên xã, nơi tập trung đông người rồi dùng bật lửa đốt dây pháo nổ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Trong quá trình thực hiện hành vi, bị cáo D nhờ cháu N kéo dây giúp mình treo dây pháo lên cổng rạp, chỉ là lời nhờ sự giúp đỡ thông thường của hai người hàng xóm với nhau chứ không có lời nói kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo D không phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Xúi giục người khác gây rối”.
Do vậy, bị cáo D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được các quy định của pháp luật về hành vi đốt pháo nổ tại nơi đông người.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng tại nơi tập trung đông người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ TNHS: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo phạm phải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS. Vì vậy, cần xem xét áp dụng Điều 36 BLHS phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
[6] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bên trong có: 12 (mười hai) vật cuộn bằng giấy màu đỏ, mỗi vật dài 2,5cm, bên trong lòng vật rỗng và bám dính các chất màu xám. Tổng khối lượng 12 (mười hai) vật trên là 02g (hai gam), là vật chứng của vụ án, không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi của cháu Trần Tuấn N (dưới 16 tuổi) được D là hàng xóm nhờ treo dây pháo giúp, thì cháu đã đến hỗ trợ D. Đối với Mai Thế C, là bạn của chú rể, khi đến dự đám cưới thấy dây pháo rơi xuống đất nên đã nhặt lên và đưa cho D, khi D treo dây pháo thì anh C hỗ trợ treo giúp. Cả anh C và cháu N đều nghĩ đó là pháo trang trí, hoàn toàn không biết mục đích D treo pháo để đốt pháo nổ, chỉ đến khi D bật lửa đốt mới biết đó là pháo nổ nên hành vi của anh C và cháu N không vi phạm pháp luật, do đó Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình D 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bởi chữ ký ghi rõ họ tên Trần Nam G, Phạm Ngọc K1 và các hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T, bên trong có: 12 (mười hai) vật cuộn bằng giấy màu đỏ, mỗi vật dài 2,5cm, bên trong lòng vật rỗng và bám dính các chất màu xám. Tổng khối lượng 12 (mười hai) vật trên là 02g (hai gam) (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Đình D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 23/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 23/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đình D xử phạt 7 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 BLHS
