Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 2900/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03/7/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
  2. Ông Võ Văn Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố thủ Đức đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 3022/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/12/2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3012/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 3975/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị C, sinh năm: 1990;

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Tăng Thanh S, sinh năm: 1989;

Nơi cư trú: Tổ C Ô, khu phố H, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Địa chỉ làm việc: Số E H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà C có đề nghị vắng mặt, ông S vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị C trình bày:

Bà và ông Tăng Thanh S kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 26, ngày 30/3/2020). Trong thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng sau đó bà và ông S phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cách sống của hai bên không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân thường phát sinh tranh chấp, thường xuyên cãi vã. Bà đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay bà và ông S đã không còn sống chung, ly thân từ năm 2022. Nay bà xác định vợ chồng không thể sống chung với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tăng Thanh S.

Về con chung: Bà và ông S có 01 (một) con chung tên Tăng Phương N, sinh ngày 21/01/2020. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Tăng Phương N, sinh ngày 21/01/2020 và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – Ông Tăng Thanh S đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông S vắng mặt, không nêu ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn bà Võ Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Tăng Thanh S vắng mặt không có lý do.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Mâu thuẫn giữa bà Võ Thị C và ông Tăng Thanh S đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà C được ly hôn ông S.

Về con chung: Giao con chung tên Tăng Phương N, sinh ngày 21/01/2020 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà C trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Võ Thị C yêu cầu ly hôn ông Tăng Thanh S, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Tăng Thanh S hiện có địa chỉ làm việc tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Bà Võ Thị C và ông Tăng Thanh S kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 26, ngày 30/3/2020. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình thì hôn nhân của bà C và ông S được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà C yêu cầu được ly hôn ông S, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo lời khai của bà C xác định: Trong quá trình chung sống, trong thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng sau đó bà và ông S phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cách sống của hai bên không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân thường phát sinh tranh chấp, thường xuyên cãi vã. Bà C đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay bà và ông S đã không còn sống chung, ly thân từ năm 2022. Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình và có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng thực tế bà C và ông S đã sống ly thân, giữa bà C và ông S không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà C với ông S đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà C về việc xin ly hôn ông S.

- Về con chung: Bà C và ông S có 01 (một) con chung tên Tăng Phương N, sinh ngày 21/01/2020. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Bà C trình bày bà là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ khi ly thân cho đến nay. Ông S vắng mặt nên không có ý kiến về phần con chung. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà C, giao trẻ Tăng Phương N, sinh ngày 21/01/2020 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của bà C không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Võ Thị C phải chịu.

[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về giải quyết nội dung vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị C:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị C được ly hôn ông Tăng Thanh S.

(Giấy chứng nhận kết hôn số số 26, ngày 30/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

2. Về con chung: Giao con chung Tăng Phương N, sinh ngày 21/01/2020 cho bà Võ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà C không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Võ Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000625 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Võ Thị C, ông Tăng Thanh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - UBND X.Mỹ Trung, H.Cái Bè, T.Tiền Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP; HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2900/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 2900/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger