|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 290/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1./ Bà Nguyễn Thị Bình
2./ Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm L - Kiểm sát viên.
Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 258/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 07/2024/TB-TA, ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Duy M; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1992; Tại Đắk Lắk;
Nơi cư trú: tổ dân phố B, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông Đỗ Văn T, đã chết; Con bà Trần Thị M1, sinh năm: 1968.
Bị cáo chưa có vợ con.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
+ Ông Thi Văn T1, sinh năm 2001. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
+ Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1982. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Duy M là người sử dụng ma túy loại Methamphetamine. Sáng ngày 06/6/2024, M đón xe ôm công nghệ G của một tài xế trên đường (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đi đến khu vực nghĩa trang C1 cuối đường P, phường T, TP., gặp một người nam giới (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), hỏi mua 01 gói ma túy đá với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy đá, Mỹ cất giấu trên người rồi đón xe ôm công nghệ đi về nhà tại địa chỉ A Y, phường E, TP .. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, M cất giấu gói ma túy trên người và đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi M đang đứng trước nhà thì bị công an phường E, TP . kiểm tra, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ vật chứng của vụ án theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 829/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,3856 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3340 gam, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
Tại Cáo trạng số 267/CT-VKSTP.BMT ngày 28/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Đỗ Duy M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đỗ Duy M mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H) năm tù.
- Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,3340 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định;
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Duy M không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, M cất giấu gói ma túy trên người và đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi M đang đứng trước nhà tại tổ 0,3856 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an phường E, TP . phát hiện, bắt quả tang.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) ........
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Đỗ Duy M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, làm hủy hoại sức khỏe con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự tại địa phương, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. [4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay.
[5] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3340 gam Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong gói niêm phong số 829/KL-KTHS ngày 14/6/2024, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Vũ M2, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với nguồn gốc số ma túy trong vụ án, bị cáo Đỗ Duy M khai nhận đón xe ôm công nghệ G của người tài xế trên đường, đi đến khu vực nghĩa trang C1 trên đường P, phường T, TP ., mua ma túy của một người nam giới. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người nêu trên, nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Đỗ Duy M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
[7] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng là phù hợp, nên HĐXX cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Duy M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Duy M: 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/6/2024.
Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3340 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, tất cả được niêm phong trong gói số 829/KL-KTHS ngày 14/6/2024. Trên bì thư ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Đỗ Duy M - BMT”, tại mép bì thư có chữ ký ghi tên Vũ M2, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ;
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Đỗ Duy M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 290/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 290/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
