TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 290/2023/HS-ST Ngày: 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa. Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân. Ông Nguyễn Văn Kền và bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa. Ông Phạm Anh Tuấn - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Hạ Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa. Bà Trần Thị Thu Hương - kiểm sát viên.
Ngày 21/12/2023, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 255/2023/HSST ngày 21/11/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2023/QĐXXST-HS ngày 05/12/2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 21/10/1998, tại huyện Lục Nan, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã H, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Tổ 5, khu 6, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 8/12. Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Q, sinh năm 1980. Chưa có vợ, con. Tiền án : Ngày 22/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội « Mua bán trái phép chất ma Ty ». Ngày 13/5/2022, đã chấp hành xong toàn bộ hình phạt của bản án. Tiền sự : Không. Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Họ và tên: Hoàng Công T, sinh ngày: 19/5/2000, tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT: Khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở: Tổ 5, khu 6, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Con ông Hoàng Công T, sinh năm 1970 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1969. Chưa có vợ, con. Tiền án, Tiền sự : Không. Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt
Họ và tên: Nguyễn Mạnh T, sinh ngày: 02/9/1993, tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Tổ 7, khu 6, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Ngọc D (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1999. Có 01 con sinh năm 2009. Tiền án: Ngày 07/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Đến ngày 21/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tiền sự : Không. Nhân thân: Ngày 30/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Đến ngày 01/12/2016, chấp hành xong Bản án trên. Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Họ và tên: Nguyễn Cường A, sinh ngày 09/6/2005, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: Tổ 61, khu 8, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 07/12. Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 và bà Trần Thị H, sinh năm 1985. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự : Không. Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt
Họ và tên: Nguyễn Trường G, sinh ngày: 28/02/1972, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, khu 1, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở: Tổ 56, khu 4B, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1945 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1952. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1979. Có 01 con sinh năm 2003. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người làm chứng:
Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 2001. Nơi thường trú: Khu phố Hải Tiến, thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.
Chị Lã Thị Th, sinh năm 2006. Nơi thường trú: Thôn Đồng Riễu, xã Dương Hưu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
Chị Tòng Thị Ánh T, sinh năm 2007. Nơi thường trú: Bản Húc, xã Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A, đều làm nhân viên phục vụ tại quán Karaoke AT, phường Hà Tu, thành phố Hạ Long. Khoảng 12 giờ 00 ngày 15/6/2023, tại phòng trọ của C và T tại tổ 5, khu 6, phường Hà Tu, T rủ C cùng sử dụng bóng cười, C đồng ý và nói với T “Có bình bóng cười tại quán Karaoke AT em lên lấy về anh em cùng sử dụng” T đồng ý rồi đi lấy bình bóng cười về sử dụng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, C gọi điện cho Nguyễn Mạnh T hỏi mua 02 (hai) bình bóng cười và rủ Tùng lên phòng trọ để cùng sử dụng nhưng Tùng hẹn đến sau và bảo Nguyễn Cường A cầm 02 (hai) bình bóng cười đến cho C. Sau đó, C bảo với T đi lấy 01 Ti ma Ty nước vui C cất giấu tại bồn xả nước trong nhà vệ sinh tầng 2, quán Karaoke AT và mua thêm bò húc về để sử dụng. T đến quán Karaoke AT lấy ma Ty nước vui theo chỉ dẫn của C và mua 01 lon bò húc cầm về phòng trọ để sử dụng. Trên đường về T đón bạn gái là Đỗ Thị H2 đến phòng trọ để cùng sử dụng ma Ty. Khi về đến phòng trọ, T đưa Ti ma Ty nước vui và lon bò húc cho C, rồi T, Hoa, C, An cùng nhau sử dụng bóng cười, một lúc sau Tùng đến sử dụng bóng cười cùng cả nhóm. Sau đó, C bảo T đi đón hai nhân viên quán Karaoke AT là Lã Thị Th (ngày 03/8/2006) và Tòng Thị Ánh T (sinh ngày 03/11/2007) đến phòng trọ để cùng sử dụng bóng cười và ma Ty. Trong lúc T đi đón Tuyết, Thu, thì C pha ma tuý nước vui và bảo Tùng “anh có chỗ nào gọi Ketamine thì gọi về cùng nhau sử dụng”. Tùng đồng ý và gọi điện cho Nguyễn Trường G hỏi mua 01 gam ma tuý Ketamine với giá 1.600.000 đồng, Tùng chuyển khoản thanh toán trước 600.000 đồng cho Giang, số tiền còn lại nợ Giang, đồng thời thống nhất điểm hẹn giao ma Ty với Giang rồi bảo An đi gặp Giang lấy ma tuý về cả nhóm sử dụng, An đồng ý và đi lấy ma Ty. Khi T, Tuyết và Thu về đến phòng trọ, thì C đã pha xong ma tuý nước vui. Sau đó, C tự múc nước vui ra bát tự sử dụng hết, rồi tiếp tục múc nước vui lần lượt mời Tùng, T, Hoa và Tuyết sử dụng. Tùng, T, Hoa sử dụng, Tuyết không sử dụng. C tiếp tục múc ma Ty nước vui đưa cho Tùng mời Thu sử dụng, Tùng cầm đưa cho Thu và nói “chơi đi không sao đâu cái này nhẹ mà”, thấy vậy C nói thêm “chơi một tí cho vui chứ làm sao”, lúc này Tùng tự uống một nửa bát ma Ty nước vui rồi đưa cho Thu, Thu cầm bát uống một ít rồi khi không ai để ý đổ đi. Một lúc sau, An về đến phòng trọ đưa cho C Ti ma tuý Ketamine, C đổ ma Ty lên đĩa và dùng thẻ nhựa cứng đánh nhuyễn rồi chia thành các đường, dùng tờ tiền 10.000 đồng đã cuộn sẵn trên cửa sổ phòng trọ để sử dụng ma Ty. C, An, T, Hoa ngồi dưới đệm, còn Tùng và Thu ngồi trên giường, C cầm đĩa ma Ty tự sử dụng rồi kẻ 02 đường ma Ty mời Tùng sử dụng, Tùng sử dụng xong, thì đưa đĩa mời Hoa và T sử dụng, Hoa và T lần lượt sử dụng, rồi T câm đĩa ma Ty mời Tuyết nhưng Tuyết không sử dụng. T để đĩa ma Ty xuống bàn thì Tùng tự lấy đĩa ma Ty sử dụng rồi kẻ các đường ma Ty mời Thu sử dụng. Thu sử dụng xong thì An tự cầm đĩa ma Ty và sử dụng. Sau đó, lần lượt Tùng và C thay phiên nhau tự sử dụng rồi cả nhóm nghe nhạc.
Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, Công an thành phố Hạ Long kiểm tra, phát hiện thu giữ tại mặt bàn trong phòng trọ có 01 (một) bát sứ hình tròn, đường kính khoảng 16,5cm, muôi nhựa màu xanh (Kí hiệu M1) và 01 (một) bát sứ hình tròn đường kính khoảng 11,5cm bên trong bát có dính cặn chất bột màu xanh (Kí hiệu M2) và 01 đèn nháy màu đen; Thu trong bát sứ ở cạnh bàn có 01 (một) vỏ Ti nilon màu trắng một đầu có khóa kẹp bên trong có dính chất bột màu trắng (Kí hiệu M3) và 01 (một) vỏ Ti nilon màu tím, bên ngoài Ti có chữ nước ngoài, bên trong có dính chất bột màu xanh dạng vết (Kí hiệu M4); Thu tại nền nhà cạnh đệm có 01 đĩa sứ hình tròn, đường kính khoảng 17,6cm, 01 thẻ nhựa màu vàng có ghi chữ LOUIS VUITTON (Kí hiệu M5) và 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có dính chất bột màu trắng (Kí hiệu M6); Thu tại chân giường có 01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ, thân vỏ chai ghi chữ STING và 01 (một) loa nghe nhạc; Thu tại góc nhà 01 (một) vỏ lon bò húc màu vàng, 01 (một) ấm điện siêu tốc; Thu giữ 03 (ba) bình kim loại vỏ màu xanh, hình trụ tròn có kích thước: chiều cao khoảng 65cm, đường kính đáy khoảng 15cm, nghi bên trong có chứa khí N2O và 10 (mười) vỏ bóng bay chưa sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A. Thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim thuê bao số 0378.961.771; Thu giữ của An 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám gắn sim thuê bao số 0765.460.335; Thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen gắn sim thuê bao số 0367.809.631; Thu giữ của Tùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng gắn sim thuê bao số 0337.391.228 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim thuê bao số 0362.842.303;
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, ngoài ra còn khai:
Nguyễn Mạnh T khai: Ngoài lần mua ma Tỵ của Nguyễn Trương Giang vào ngày 15/6/2023, trước đó Tùng còn mua của Giang 02 lần đã sử dụng hết cho bản thân, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 14/6/2023, tại khu vực Cây xăng Núi Xẻ, phường Cao Thắng Giang bán cho Tùng 01 Ti ma tuý Ketamine với giá 1.600.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 14/6/2023, tại cổng Nhà khách Tỉnh uỷ Quảng Ninh, thuộc phường Hồng Hà, Giang bán cho Tùng 02 Ti Ketamine với giá 3.200.000 đồng. Cả ba lần đều chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của Tùng và Giang.
- Hoàng Công T khai: Khi đi đón Tuyết và Thu đến sử dụng ma Ty, T không nói cho Tuyết và Thu biết việc đến phòng trọ của C sử dụng ma Ty mà chỉ bảo đi làm.
- Nguyễn Văn C khai: Cách thời điểm bị bắt 15 ngày, tại khu vực cầu Trắng, thuộc phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, C gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 (một) Ti ma Ty nước vui với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma Ty, C cầm về cất giấu trong két nước bồn cầu nhà vệ sinh tầng 2 quán Karaoke AT, mục đích để sử dụng khi có nhu cầu.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trường G. Thu giữ của Giang: 01 gói giấy bên trong có 01 Ti nilon chứa tinh thể màu trắng (Kí hiệu M7) và 01 Ti nilon chứa 04 viên nén màu vàng, không rõ hình dạng kích thước (Kí hiệu M8); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh gắn sim thuê bao số 0793.229.838.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trường G khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của Nguyễn Mạnh T về thời gian, địa điểm, số lần và số tiền bán ma Ty cho Tùng, nguồn gốc ma Ty bán cho Tùng và bị thu giữ, Giang khai mua của một người đàn ông không quen biết với giá 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) tại khu vực đoạn đường gần quán Karaoke KTV thuộc phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long vào ngày 09/6/2023, mục đích để bán.
Bản kết luận giám định số 845/KL-KTHS, ngày 23/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: mẫu vật kí hiệu M1, M2, M4 gửi giám định là ma Ty, loại Methamphetamine, Ketamine, khối lượng dạng vết không xác định được; Mẫu vật kí hiệu M3, M5, M6 gửi giám định là ma Ty, loại Ketamine, khối lượng dạng vết không xác định được; Mẫu vật kí hiệu M7 gửi giám định là ma Ty, loại Ketamine có khối lượng là 0,981 gam; Mẫu vật kí hiệu M8 gửi giám định là ma Ty, loại MDMA có khối lượng là 1,294 gam. Hoàn lại tổng khối lượng 1,95 gam; 01 bát sứ hình tròn màu trắng, đường kính 16,5cm; 01 bát sứ hình tròn màu trắng đường kính 10,5cm; 01 đĩa sứ hình tròn đường kính 18cm; 01 tờ tiền Việt Nam loại 10.000 đồng (Bút lục số 20 – 21)
Bản kết luận giám định số 846/KL-KTHS, ngày 23/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: trong nước tiểu của: Nguyễn Văn C, Lã Thị Th, Đỗ Thị H2, Nguyễn Mạnh T có ma Ty Methamphetamine và Ketamine; Hoàng Công T có ma Ty Methamphetamine, MDMA và Ketamine; Nguyễn Cường A có ma Ty Ketamine. Tòng Thị Ánh T không tìm thấy chất ma Ty thường gặp và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu nước tiểu.
Vật chứng, tài sản trong vụ án: Số ma Ty hoàn lại sau giám định. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim thuê bao số 0378.961.771; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim thuê bao số 0367.809.631; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng gắn sim thuê bao số 0337.391.228; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám gắn sim thuê bao số 0765.460.335; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh gắn sim thuê bao số 0793.229.838; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim thuê bao số 0362.842.303; 01 đèn nháy màu đen; 01 thẻ nhựa màu vàng có in chữ LOUIS VUITION; 01 chai nhựa nắp màu đỏ, thân có chữ STING; 01 vỏ lon bò húc; 01 ấm siêu tốc; 01 loa nghe nhạc màu đen; 10 vỏ bóng bay màu trắng chưa sử dụng; 03 bình kim loại màu xanh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để quản lý theo quy định của pháp luật. Số tiền 10.000 đồng gửi bảo quan tại gói gửi số 1297 tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ninh.
Lời khai của những người làm chứng: Chị Đỗ Thị H2, chị Lã Thị Th và chị Tòng Ánh Tuyết khai vào khoảng 13 giờ ngày 15/6/2023, các chị được bị cáo T đón đến phòng trọ của bị cáo C và T để sử dụng ma tuý. Tại đây, chị Hoa và chị Thu đã sử dụng ma tuý Ketamin cùng các bị cáo C, Tùng, T, An. Riêng chị Tuyết không sử dụng ma tuý (bút lục số 393-427).
Bản Cáo trạng số 256/CT-VKSHL ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Trường G về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma Tỷ”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2023;
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma Tỷ”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2023;
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Công T từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Nguyễn Cường A từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma Tỷ”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2023;
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma Tỷ”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2023.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn lại sau giám định số 845/KL-KTHS, 01 đèn nháy, 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 chai nhựa nắp màu đỏ, 01 vỏ lon bò húc, 01 ấm siêu tốc, 01 loa nghe nhạc, 10 vỏ bóng bay, 03 bình kim loại; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 06 điện thoại di động và số tiền 10.000 đồng. Truy thu của bị cáo Nguyễn Trường G số tiền 5.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A, Nguyễn Trường G đều thừa nhận hành vi các bị cáo đã thực hiện vào ngày 15/6/2023 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu: Biên bản giữ người khẩn cấp; biên bản khám xét; biên bản thu thập dữ liệu điện tử; biên bản nhận dạng; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khẳng định việc truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan sai.
Như vậy đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 14 và 15/6/2023, trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trường G đã có hành vi bán 03 lần trái phép ma Ty ketamine cho Nguyễn Mạnh T với tổng số tiền là 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Ngoài ra, Giang còn có hành vi tàng trữ 0,981 gam ma Ty loại Ketamine và 1,294 gam ma Ty loại MDMA, mục đích để bán kiếm lời.
Từ khoảng 13 giờ đến 17 giờ ngày 15/6/2023, tại phòng trọ của Nguyễn Văn C và Hoàng Công T thuộc tổ 5, khu 6, phường Hà Tu, thành phố Hạ Long. Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T và Nguyễn Cường A đã có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho Lã Thị Th (sinh ngày 03/8/2006) và Nguyễn Thị Hoa sử dụng trái phép chất ma Ty thì bị Công an thành phố Hạ Long kiểm tra và thu giữ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma Ty” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255; hành vi của bị cáo Nguyễn Trường G đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma Ty của Nhà nước ta. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C có thành tích trong quân đội; được Tham mưu trưởng sư đoàn 365 tặng Giấy khen và tặng danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến năm 2018. Bị cáo Giang có bố mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhì và hạng ba, nên bị cáo C và bị cáo Giang được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Mạnh T đã có tiền án, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên đều bị áp dụng tình tiết “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo: Các bị cáo C, T, Tùng, An phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo C là người khởi xướng, bảo T đón chị Hoa và chị Thu đến phòng trọ sử dụng ma tuý; chia ma tuý Ketamine cho mọi người sử dụng nên có vai trò đầu và phải chịu mức hình phạt cao nhất. Các bị cáo T, Tùng, An là những người tiếp nhận ý chí từ bị cáo C, thực hiện hành vi phạm tội; trong đó, bị cáo Tùng điện thoại hỏi mua ma tuý và bảo An đi lấy ma tuý, trả 600.000 đồng tiền mua ma tuý. Bị cáo An trực tiếp đi gặp Giang để lấy ma tuý mang về để cùng sử dụng, nên bị cáo T, Tùng và An có vai trò ngang nhau, sau bị cáo C; do bị cáo Tùng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên có mức hình phạt cao hơn các bị cáo T và An. Bị cáo Giang phạm tội độc lập về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về xử lý vật chứng: Số ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy; 06 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, các bị cáo sử dụng để liên lạc thống nhất việc sử dụng ma Ty, liên lạc mua bán ma Ty và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng các bị cáo sử dụng làm ống hút để dùng ma Ty nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 01 đèn nháy, 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 chai nhựa nắp màu đỏ, 01 vỏ lon bò húc, 01 ấm siêu tốc, 01 loa nghe nhạc, 10 vỏ bóng bay, 03 bình kim loại là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Bị cáo Giang bán ma tuý cho bị cáo Tùng 03 (ba) lần, được hưởng lợi số tiền 5.400.000đ (Năm triệu, bốn trăm nghìn đồng) đã ăn tiêu hết nên cần truy thu số tiền trên của bị cáo Giang để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với Lã Thị Th, Nguyễn Thị Hoa có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị Công an thành phố Hạ Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Giang và người phụ nữ bán ma tuý cho C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập
Đối với ông Nguyễn Văn Tuyến là người cho các bị cáo C, T thuê phòng trọ, không biết việc C và T tổ chức sử dụng ma tuý trong phòng trọ nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Công T, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Cường A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma Ty” Bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 15/6/2023
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Công T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 15/6/2023
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 15/6/2023
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cường A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 15/6/2023
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 15/6/2023.
Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ: Số ma Ty hoàn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì hoàn lại sau giám định số 845/KL-KTHS; 01 đèn nháy màu đen; 01 thẻ nhựa màu vàng có in chữ LOUIS VUITION; 01 chai nhựa nắp màu đỏ, thân có chữ STING; 01 vỏ lon bò húc; 01 ấm siêu tốc; 01 loa nghe nhạc màu đen; 10 vỏ bóng bay màu trắng chưa sử dụng; 03 bình kim loại màu xanh.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim thuê bao số 0378.961.771; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim thuê bao số 0367.809.631; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng gắn sim thuê bao số 0337.391.228; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám gắn sim thuê bao số 0765.460.335; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh gắn sim thuê bao số 0793.229.838; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim thuê bao số 0362.842.303 và số tiền 10.000đ (Mười nghìn đồng).
(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 33/BB-THA ngày 20/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và Biên bản giao nhận tài sản số 341/2022/BBGN-CQCSĐTCATPHL ngày 28/6/2023 của Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh).
Truy thu của bị cáo Nguyễn Trường G số tiền 5.400.000 đồng (Năm triệu, bốn trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về án phí, lệ phí tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước
Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Giang Thanh |
Bản án số 290/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 290/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
