|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 290/2024/HS-ST Ngày: 11-12-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Păng Ting Nock
- Bà Mai Lương Anh
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà:
Ông Phan Minh Trí – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 312/2024/HSST ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2024/HSST – QĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc D, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990, tại: Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: xây dựng; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn A, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; Vợ: Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1996; Có 02 con, sinh năm 2011 và năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 87/2021/HS-PT ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2022, đã đóng án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm; Bị bắt tạm giam ngày 29/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964. Trú tại: 109/7/2 L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- anh Nguyễn Đình Quốc B, sinh năm 2000. Trú tại: C Q, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- anh Lý Hoàng M, sinh năm 1997. Trú tại: 109/7/2 L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc D là đối tượng từng chấp hành án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi chấp hành án xong, đầu tháng 3 năm 2024, D tạo một tài khoản facebook có tên “Nguyen Hai” tham gia vào nhóm: “Luật Sư Tư Vấn Miễn P” để tư vấn soạn đơn ly hôn và tranh chấp tài sản cho người khác, tuy nhiên D chỉ mới học hết lớp 9, hoàn toàn không có kiến thức hay học qua trường lớp nào đào tạo về luật. Ngày 21/3/2024, bà Nguyễn Thị H sử dụng tài khoản facebook tên “Hồng N2” đăng vào nhóm Luật Sư Tư Vấn Miễn Phí với nội dung “Cần tìm kiếm luật sư tư vấn hỗ trợ tranh chấp đất đai”. Thấy vậy, D để lại số điện thoại “0943.344.xxx” trong bài đăng của bà H thì được bà H gọi điện thoại nhờ D tư vấn. Quá trình trao đổi, bà H nói cho D biết bản thân bà H đã thua kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất tại 2 phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm tại tỉnh Lâm Đồng, nhờ D giải quyết thắng kiện với giá 20.000.000 đồng. Nghe bà H nói vậy, mặc dù biết bản thân không đủ khả năng cũng như điều kiện để giải quyết việc tranh chấp cho bà H, tuy nhiên do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, D nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của bà H. Thực hiện ý định, D hẹn bà H đến thành phố Đ để bàn bạc, trao đổi công việc. Ngay sau đó, D tìm kiếm trên mạng xã hội đặt làm giả 01 (một) thẻ luật sư mang tên Nguyễn H1 với giá 500.000 đồng thì được đối tượng làm giả gửi hình ảnh thẻ luật sư giả cho D qua mạng xã hội facebook. Đến sáng ngày 22/03/2024, D đón xe khách lên Đ, đến tiệm phô tô in màu thẻ luật sư giả rồi hẹn gặp bà H ở quán C – địa chỉ: số B đường T, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, D nói D là luật sư và đưa thẻ luật sư giả cho bà H để bà H tin tưởng và đưa cho D 5.000.000đ (Năm triệu đồng) tiền mặt, số tiền còn lại bà H hẹn chuyển khoản cho D. Sau đó D về Bình Thuận thì bà H chuyển khoản 2 lần, mỗi lần 5.000.000đ (năm triệu đồng) qua tài khoản Nguyễn Thị T (em họ của D), tổng số tiền bà H đã đưa cho D là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Do nghi ngờ D lừa đảo nên bà H hẹn D lên Đ nhận thêm tiền nhờ người đo đạc mảnh đất mà bà H thua kiện là 4.000.000₫ (bốn triệu đồng) thì D đồng ý. Chiều ngày 28/3/2024, D đón xe từ Bình Thuận đến quán C thì bị bà H và con trai là Lý Hoàng M giữ lại. Lúc này, D biết bà H phát hiện bản thân lừa đảo nên trả lại cho bà H số tiền 14.600.000 đồng, sau đó D bị Công an P1, Đ đưa D về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
* Vật chứng của vụ án: 01 (Một) Điện thoại di động OPPO Reno 2, màu xanh, đã qua sử dụng; 14.600.000đ (mười bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) tiền Việt Nam. 01 (Một) tờ giấy có in màu chữ “Thẻ luật sư”; “luật sư: Nguyễn H1” và in ảnh màu một người đàn ông có đặc điểm nhận dạng giống với Nguyễn Ngọc D.
Trong vụ án này còn có Nguyễn Thị T, sinh năm 1996, trú tại: P, H, H, Bình Thuận, là người cho bị can Nguyễn Ngọc D mượn tài khoản số 0621000454951 tại Ngân hàng V để nhận tiền chuyển khoản từ bà Nguyễn Thị H. Quá trình điều tra xác định T không biết bị can mượn tài khoản để sử dụng vào mục đích trái pháp luật nên không có cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Thị T. Đối với đối tượng làm giả hình ảnh thẻ luật sư cho Nguyễn Ngọc D, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại Bản cáo trạng số 310/CT-VKSĐL-LĐ ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm d khoản 2 Điều 341, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Ngọc Danh từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) Điện thoại di động OPPO Reno 2, màu xanh, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bà H số tiền 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng).
Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Ngày 21/3/2024, biết bà Nguyễn Thị H có nhu cầu thuê luật sư để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất, Nguyễn Ngọc D tìm kiếm trên mạng xã hội đặt làm giả 01 (một) thẻ luật sư mang tên Nguyễn H1 với giá 500.000₫ (năm trăm ngàn đồng) thì được đối tượng làm giả gửi hình ảnh thẻ luật sư giả cho D qua mạng xã hội facebook. Sau khi hẹn bà H, sáng ngày 22/03/2024, D đón xe khách lên Đ, đến tiệm phô tô in màu thẻ luật sư giả đem đến quán C gặp bà H, D nói dối D là luật sư và đưa thẻ luật sư giả cho bà H để bà H tin tưởng và chiếm đoạt của bà H tổng số tiền là 15.000.000 đồng.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần áp dụng mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã khắc phục hậu quả nên áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo chiếm đoạt của bả Nguyễn Thị H 15.000.000 đồng, đã trả cho bà H 14.600.000 đồng, buộc bị cáo trả cho bà H 400.000 đồng còn lại,
[5] Về xử lý vật chứng: Vật chứng chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 11/12/2024 gồm: 01 (Một) Điện thoại di động OPPO Reno 2, màu xanh, đã qua sử dụng. Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
2. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm d khoản 2 Điều 341, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Ngọc D 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động OPPO Reno 2, màu xanh, đã qua sử dụng theo biên bản bàn giao vật chứng sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 11/12/2024.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hà Vân Hồng |
Bản án số 290/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Số bản án: 290/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2024.
