Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 290/ 2024/ HS-ST;

Ngày: 20/8/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Nga
  2. Ông Nguyễn Văn Quý

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 315/2024/HSST ngày 31/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2024/QĐXXST-HS ngày 08/8/2024 đối với bị cáo:

Lê Duy M, Sinh ngày: 27/05/2000; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký cư trú và chỗ ở: Số nhà A N, P. N, TP ., tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Duy H, Sinh năm: 1977; Con bà: Bùi Thị L, Sinh năm: 1980; Gia đình bị can có 02 anh em, bị can là con đầu; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 19/07/2023 Công an T2 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 17/6/2022 Công an T2 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”; Nhân thân: Ngày 23/8/2019 Công an T2 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác”.

Tạm giữ từ ngày 09/05/2024 đến ngày 18/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

  1. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1971 – Vắng mặt ;
  2. Địa chỉ: SN 48 phố Tân Hưng, Phường Nam Ngạn, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  3. Chị Đỗ Thị Tuyết M1, sinh năm 1980 – Vắng mặt ;
  4. Địa chỉ: S H, Phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

  5. Chị Đỗ Thị P1, sinh năm 1982 – Vắng mặt;
  6. Địa chỉ: SN 73 Lương Ngọc Khuyến, Phường Trường Thi, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  7. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1975 - Vắng mặt;
  8. Địa chỉ: SN H P, Phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

  9. Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1996 - Vắng mặt;
  10. Địa chỉ: SN I Đ, Phường T, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

  11. Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1982 - Vắng mặt;
  12. Địa chỉ: SN D H, Phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân không có việc làm ổn định, lại sẵn có nguồn vốn nên từ ngày 20/4/2023 đến ngày 09/5/2024, Lê Duy M đã cho một số khách vay tiền với lãi suất 3.333 đồng/triệu/ngày, tương ứng với lãi suất 121,5%/năm, vượt quá 6,075 lần so với mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, cụ thể:

  1. Chị Nguyễn Thị P sinh năm 1971, trú tại số nhà D phố T, P. N, TP . vay tổng cộng 03 gói vay thăm gồm:
  2. Ngày 20/04/2023, M cho chị P vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày thu 200.000₫ trong vòng 60 ngày. Khi hết thời hạn của gói vay trên chị P đã trả cho M tổng cộng 12.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 15/7/2023, chị P tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 04/10/2023, chị P tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Tổng số tiền M sử dụng cho chị Nguyễn Thị P vay là 30.000.000 đồng. Số tiền lãi đã thu là 6.000.000 đồng, số tiền lãi được phép thu theo quy định: 986.301 đồng (chín trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng), thu lời bất chính: 5.013.699 đồng (năm triệu mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).

  3. Chị Đỗ Thị Tuyết M1 – SN 1980, trú tại số nhà B H, P. Đ, TP . vay tổng cộng 03 gói vay thăm gồm:
  4. Ngày 26/04/2023, M cho chị M1 vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày thu 200.000đ trong vòng 60 ngày. Khi hết thời hạn của gói vay trên chị M1 đã trả cho M tổng cộng 12.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 05/7/2023, chị M1 tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 01/10/2023, chị M1 tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Tổng số tiền M sử dụng cho chị Đỗ Thị Tuyết M1 vay là 30.000.000 đồng. Số tiền lãi M thu là 6.000.000 đồng. Số tiền lãi mà M được phép thu theo quy định là 986.301 đồng (chín trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng), thu lời bất chính: 5.013.699 đồng (năm triệu mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng.

  5. Chị Đỗ Thị P1 – SN 1982, trú tại số nhà G L, P. T, TP . vay tổng cộng 05 gói vay gồm:
  6. Ngày 02/5/2023, M cho chị P1 vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày thu 200.000₫ trong vòng 60 ngày. Khi hết thời hạn của gói vay trên chị P1 đã trả cho M tổng cộng 12.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 04/7/2023, chị P1 tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 15/9/2023, chị P1 tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 16/11/2023, chị P1 tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 16/01/2024, chị P1 tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Tổng số tiền M sử dụng cho chị Đỗ Thị P1 vay là 50.000.000 đồng. Số tiền lãi M thu là 10.000.000 đồng. Số tiền lãi mà M được phép thu theo quy định là 1.643.836 đồng (một triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng). Số tiền thu lời bất chính là 8.356.164 đồng (tám triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng) (BL 36-40).

  7. Chị Nguyễn Thị C – SN 1975, trú tại số nhà H P, P. Đ, TP . vay tổng cộng 03 gói vay gồm:
  8. Ngày 10/7/2023, M cho chị C vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày thu 200.000₫ trong vòng 60 ngày. Khi hết thời hạn của gói vay trên chị C đã trả cho M tổng cộng 12.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 21/9/2023, chị C tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Ngày 25/9/2023, chị C tiếp tục vay của M số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Số tiền lãi đã thu được là: 2.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định: 328.767 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.671.233 đồng.

    Tổng số tiền M sử dụng cho chị Nguyễn Thị C vay là 30.000.000 đồng. Số tiền lãi M thu là 6.000.000 đồng. Số tiền lãi mà M được phép thu theo quy định là 986.301 đồng (chín trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng), thu lời bất chính: 5.013.699 đồng (năm triệu mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng.

  9. Chị Nguyễn Thị Thu T – SN 1996, trú tại số nhà I Đ, P. T, TP . vay 02 gói vay gồm:
  10. Ngày 26/6/2023, M cho chị T vay 15.000.000 đồng, mỗi ngày thu 300.000₫ trong vòng 60 ngày. Chị T đã trả hết tiền gốc, lãi trong vòng 40 ngày. Số tiền lãi đã thu được là: 3.000.000đ, số tiền lãi được thu theo quy định là 328.767 đồng. Số tiền thu lời bất chính số tiền 2.671.233 đồng.

    Ngày 05/8/2023, chị T vay tiếp số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 3.000.000 đồng trong 60 ngày. Mỗi ngày chị T phải trả cho M số tiền 300.000 đồng (gồm 50.000 đồng tiền lãi và 250.000 đồng tiền gốc). Đến ngày 15/8/2023, chị T đã trả cho M được số tiền 2.000.000 đồng (bao gồm 500.000 đồng tiền lãi và 1.500.000 đồng tiền gốc). Số tiền lãi mà M được phép thu là 82.192 đồng, thu lời bất chính số tiền 417.808 đồng. Số tiền cả gốc và lãi chị T còn nợ M là 160.000.000đ, M và chị T thống nhất sẽ trả lãi theo tháng với lãi suất 1.600.000đồng/tháng. Tính đến thời điểm bị phát hiện thì chị T phải trả lãi cho M được 08 tháng tương ứng với số tiền là 12.800.000đồng, số tiền lãi được phép thu là 1.775.342 đồng, số tiền nhằm thu lời bất chính là 11.024.658 đồng. Chị T đã trả cho M 02 tháng tiền lãi là 3.200.000₫ (số tiền M được phép thu theo quy định của Bộ luật dân sự là 450.000đ, số tiền thu lời bất chính là 2.750.000đ). Đến tháng 5/2024, chị T còn nợ M số tiền gốc là 13.500.000 đồng.

    Tổng số tiền M sử dụng cho chị Nguyễn Thị Thu T vay là 30.000.000 đồng, nhằm thu số tiền lãi là 16.300.000 đồng, trong đó số tiền M được phép thu theo quy định của Bộ luật dân sự là 2.186.301 đồng, số tiền lời bất chính nhằm thu là 14.113.699 đồng. Tổng tiền lãi M đã thu của chị T là 6.700.000 đồng, trong đó số tiền M được phép thu theo quy định của Bộ luật dân sự là 860.959 đồng, số tiền thu lời bất chính là 5.839.041 đồng.

  11. Ngày 21/10/2023, M cho chị Nguyễn Minh H1 – SN 1982, trú tại số nhà D H, P. Đ, TP . vay số tiền 20.000.000 đồng, mỗi ngày thu 400.000đ trong vòng 60 ngày. Khi hết thời hạn của gói vay trên chị H1 đã trả cho M tổng cộng 24.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu được là: 4.000.000đ, số tiền lãi mà M được phép thu theo quy định là 657.523đ (sáu trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm hai mươi ba đồng). Số tiền thu lời bất chính là: 3.342.477 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).

Tổng cộng bị can Lê Duy M đã sử dụng 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) cho Nguyễn Thị P, Đỗ Thị Tuyết M1, Đỗ Thị P1, Nguyễn Thị C, Nguyễn Minh H1Nguyễn Thị Thu T vay. M cho 06 người vay với hình thức xoay vòng, lấy được hết tiền gốc của gói vay trước, nếu khách vay có nhu cầu, M lại tiếp tục sử dụng tiền gốc cho khách vay gói vay sau hoặc các khách khác có nhu cầu, nếu M thu được tiền gốc của khách vay trước chưa sử dụng đến, M lại lấy cho khách khác vay. Vì vậy số tiền thực tế M cho 06 khách vay là 85.000.000đ (T1 mươi lăm triệu đồng) .

Trách nhiệm dân sự:

Tại cơ quan điều tra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm chị Nguyễn Thị P, Đỗ Thị Tuyết M1, Đỗ Thị P1, Nguyễn Thị C, Nguyễn Minh H1 không có đề nghị gì về phần dân sự; chị Nguyễn Thị Thu T đề nghị Lê Duy M trả lại số tiền lãi vượt quá quy định đối với số tiền đã vay. Nhưng tại giai đoạn chuẩn bị xét xử chị Nguyễn Thị Thu T mặc dù đã được Tòa án giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại số tiền lãi vượt quá quy định, nhưng chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền này.

Về vật chứng:

Thu giữ từ Lê Duy M 01 (một) cuốn sổ bìa màu đen có KT (15,5 x 21,5) cm ghi lại thời gian, số tiền mà M cho người khác vay, trong đó có 06 trang giấy có chữ viết và chữ ký của bị can M. Cơ quan CSĐT Công an T2 chuyển kèm hồ sơ vụ án.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các căn cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 244/ CTr -VKSTP ngày 30/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Lê Duy M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Đại diện VKS đề nghị HĐXX: Tuyên bố Lê Duy M phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 27 ngày cải tạo không giam giữ, do bị cáo đã bị tạm giữ 09 ngày.

Khấu trừ thu nhập của bị cáo mỗi tháng 5% mức thu nhập là 225.000đ, trong thời gian bị cáo chấp hành hình cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 30.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

Các biện pháp tư pháp:

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền dùng để cho vay của Lê Duy M là 71.500.000đ và truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của chị Nguyễn Thị Thu T số tiền gốc vay của bị cáo Lê Duy M, đến nay chưa trả cho bị cáo là 13.500.000₫);

Truy thu của Lê Duy M toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N là 6.121.221đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền Lê Duy M thu lời bất chính của Nguyễn Thị P, Đỗ Thị Tuyết M1, Đỗ Thị P1, Nguyễn Thị C, Nguyễn Minh H1Nguyễn Thị Thu T. Do những người này không yêu cầu trả lại, nên không xem xét.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
  • Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

  • [ 2] Về hành vi phạm tội:
  • Từ ngày 20/4/2023 đến ngày 09/5/2024, Lê Duy M đã cho chị Nguyễn Thị P, Đỗ Thị Tuyết M1, Đỗ Thị P1, Nguyễn Thị C, Nguyễn Minh H1Nguyễn Thị Thu T vay nhiều lần, với tổng số tiền cho vay là 190.000.000đ, nhưng số tiền thực tế có để cho vay là 85.000.000đ, với lãi suất 121,6%/năm, vượt quá 6,075 lần so với mức lãi suất tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Số tiền lãi M đã thu được là 38.700.000đ (trong đó tiền lãi M được phép thu theo quy định là 6.121.221đ, số tiền thu lời bất chính là 32.578.779đ.

    Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự .

    Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Duy M về tội “ “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  • [3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
  • Hiện nay hoạt động cho vay nặng lãi đang diễn ra thường xuyên và ngày càng phức tạp. Hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra hoạt động cho vay nặng lãi còn làm cho nhiều người phải tán gia bại sản, nợ nần chồng chất, gia đình ly tán và nó còn là nguyên nhân làm gia tăng hoạt động bạo lực, uy hiếp sử dụng vũ lực, chiếm đoạt, cưỡng đoạt tài sản của người vay hoặc người thân trong gia đình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

  • [4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
  • Về tình tiết giảm nhẹ:

    Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng:

    Không

  • [ 5] Về hình phạt:
  • Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

    Hiện nay bị cáo đang làm shiper, thu nhập mỗi tháng khoảng 4.500.000đ. Do đó cần áp dụng Khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự, khấu trừ mức thu nhập mỗi tháng 15% của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 4.500.000₫ x15%= 675.000 đ.

    Hình phạt bổ sung:

    Trong vụ án này bị cáo phạm tội, có thu lời bất chính. Do đó áp dụng Khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo 40.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

  • [ 6] Các biện pháp tư pháp:
  • - Đối với khoản tiền cho vay và số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự:

    Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền gốc Lê Duy M dùng để cho vay là 85.000.000đ ( Trong đó truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của Lê Duy M là 71.500.000đ và truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của chị Nguyễn Thị Thu T số tiền gốc vay của bị cáo Lê Duy M, đến nay chưa trả là 13.500.000đ;

    Truy thu của Lê Duy M toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N là 6.121.221đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    - Đối với số tiền thu lời bất chính:

    Đối với chị Nguyễn Thị Thu T đã được Tòa án giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền thu lời bất chính của chị cho chị, nhưng chị T có đơn xin xử vắng mặt và chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền thu lời bất chính là 5.839.041 đồng, cho chị. Do đó công nhận sự định đoạt và quyền tự định đoạt của đương sự, không buộc bị cáo phải trả lại khoản tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị Thu T.

    Đối với số tiền Lê Duy M thu lời bất chính của chị Nguyễn Thị P, chị Đỗ Thị Tuyết M1, chị Đỗ Thị P1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Minh H1.Tuy giai đoạn điều tra những người này trình bày lời khai không yêu cầu gì về số tiền này, nhưng tại phiên tòa họ vắng mặt, nên chưa được Hội đồng xét xử giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật và cũng chưa có ý kiến của họ về việc đã được Hội đồng xét xử giải thích về quyền được yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền này, nhưng vẫn không yêu cầu. Mặt khác HĐXX xét thấy đây là số tiền bị cáo thu lời bất chính của những người vay, do đó để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho những người vay thì cần buộc bị cáo Lê Duy M phải có trách nhiệm trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật cho chị Nguyễn Thị P, chị Đỗ Thị Tuyết M1, chị Đỗ Thị P1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Minh H1.

  • [7] Về án phí:
  • Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1, 3 Điều 201; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36; Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy M phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ".

Xử phạt: Lê Duy M 18 ( Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 27 ngày cải tạo không giam giữ (vì đã bị tạm giam 09 ngày). Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 17 tháng 03 ngày. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an Thành phố T2, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền Lê Duy M 40.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

Khấu trừ 15% mức thu nhập của bị cáo, trong thời gian bị cáo chấp hành hình cải tạo không giam giữ, mỗi tháng là 675.000 đ.

Giao bị cáo Lê Duy M cho UBND phường N, Thành phố T. tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với khoản tiền cho vay và số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự:
  • Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền gốc Lê Duy M dùng để cho vay là 85.000.000đ (Trong đó truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của Lê Duy M là 71.500.000đ và truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của chị Nguyễn Thị Thu T số tiền gốc vay của bị cáo Lê Duy M, đến nay chưa trả là 13.500.000₫);

    Truy thu của Lê Duy M toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N là 6.121.221đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • Đối với số tiền thu lời bất chính:
  • Công nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu T về việc không yêu cầu bị cáo Lê Duy M phải trả lại khoản tiền thu lời bất chính.

    Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật cụ thể như sau:

    Trả cho chị Nguyễn Thị P số tiền 5.013.699 đ; Trả cho chị Đỗ Thị Tuyết M1 số tiền 5.013.699 đ; Trả cho chị Đỗ Thị P1 số tiền 8.356.164 đ; Trả cho chị Nguyễn Thị C số tiền 5.013.699 đ; Trả cho chị Nguyễn Minh H1 số tiền 3.342.477 đ.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi suất đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 290/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ về hình sự về tội "cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"

  • Số bản án: 290/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Duy M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger