TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 290/2025/HS-ST Ngày: 09 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lê Thị Xuân Lang
- 2. Ông Trần Ngọc Thực
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 342/2025/TLST-HS ngày 25/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2589/2025/QĐXXST-HS ngày 16/5/2025 đối với các bị cáo:
- Trần Trung K; giới tính: Nam; sinh ngày: 16/8/1982, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: Đường K, phường B, quận P, thành phố H; nơi cư trú: Đường H, phường M, quận T, thành phố H; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn M (đã chết) và bà Tống Thị Ngọc A; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: Tại Bản án số 141/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân quận G, thành phố H đã xử phạt 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án;
- Nguyễn Thanh P; giới tính: Nữ; sinh ngày: 28/9/1997, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: Đường H, phường N, quận P, thành phố H; nơi cư trú: Ấp X, xã T, huyện C, thành phố H; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Vũ Hồng T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc P1; có chồng là Dương Ngọc H1 và có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không;
- Lê Tấn T; giới tính: Nam; sinh ngày: 26/11/1989, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, thành phố H; nơi cư trú: Ấp X, xã T, huyện C, thành phố H; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Đức L (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; có 01 con sinh năm 2016 (không rõ vợ); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09/5/2024; có mặt.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08/5/2024; có mặt.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08/5/2024; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Trung K:
Luật sư Trần Ngọc A1 và Luật sư Lý Tuấn D1 - Văn phòng luật sư QC, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 08/5/2024, Công an huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà 14/6/15 Đường số 65, ấp Xóm Đồng A, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Lê Tấn T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trên tay trái của Lê Tấn T 01 bao thuốc lá hiệu Hero, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 10,0728 gam loại Methamphetamine. Lê Tấn T khai nhận đang trên đường đi giao cho người mua là đối tượng nam (không rõ lai lịch) tại ngã tư Bàu Đá, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 08/5/2024, cơ quan Công an tiến hành khám xét chỗ ở của Lê Tấn T tại phòng số 5, khách sạn Lunar 2, ấp Xóm Đồng A, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ: 04 gói nylon chứa tinh thể là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 4,4154 gam loại Methamphetamine; 01 gói nylon chứa mảnh vụn viên nén có khối lượng 1,2760 gam (qua giám định không tìm thấy ma túy); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử; 01 quẹt gas; 03 điện thoại di động. Thời điểm khám xét có mặt Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh P khai nhận gói ma túy thu giữ của Lê Tấn T là do Nguyễn Thanh P nhờ Lê Tấn T đi giao cho người mua, số ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy tại phòng số 5, khách sạn Lunar 2 là của Nguyễn Thanh P. Nguyễn Thanh P và Lê Tấn T khai không sử dụng ma túy cùng nhau và cũng không cho nhau ma túy để sử dụng.
Mở rộng điều tra, vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, cơ quan Công an khám xét chỗ ở của Trần Trung K, tại số 8/7C Phan Huy Ích, Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ: 01 gói nylon chứa tinh thể là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 26,1043 gam loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử; 01 kéo và 10 túi nylon rỗng.
Toàn bộ vật chứng là ma túy thu giữ đã được giám định, thể hiện tại Kết luận giám định số 5739/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận:
- Trần Trung K khai: Đầu năm 2023, Trần Trung K biết đối tượng tên “N2” (không rõ lai lịch) bán ma tuý nên khi cần sử dụng, Trần Trung K sử dụng tài khoản Zalo “T.L” liên lạc với “N2” qua tài khoản “Club De N2” để đặt mua, giao dịch tại khu vực bến xe An Sương, Trần Trung K trả tiền trực tiếp cho “N2” và đến gốc trụ điện gần đó lấy gói ma túy “N2” để sẵn. Từ tháng 4/2023, Trần Trung K mua ma tuý loại Methamphetamine của “N2” để bán lại, mỗi lần với khối lượng từ 15 gam đến 25 gam, giá 3.500.000 đồng đến 5.600.000 đồng. Cụ thể:
Ngày 13/4/2024, Trần Trung K đặt mua của “N2” 15 gam ma túy loại Methamphetamine, giao nhận tại khu vực bến xe An Sương. Sau đó, Trần Trung K chia nhỏ khối lượng ma túy này thành nhiều gói để bán và sử dụng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh P sử dụng tài khoản Zalo “Như T” gọi đến tài khoản “T.L” của Trần Trung K đặt mua 1.900.000 đồng ma túy loại Methamphetamine (khoảng 05 gam). Hai bên đã giao nhận ma túy và trả tiền trực tiếp tại chỗ ở của Trần Trung K.
Ngày 19/4/2024, Trần Trung K đặt mua của “N2” 25 gam Methamphetamine, giao dịch tại khu vực bến xe An Sương. Trần Trung K đến điểm hẹn giao cho “N2" 5.600.000 đồng tiền mặt và nhận 01 gói ma túy. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Thanh P gọi qua Zalo đặt mua của Trần Trung K 3.800.000 đồng ma túy loại Methamphetamine (khoảng 10 gam); hai bên giao nhận ma túy tại nhà Trần Trung K. Khối lượng ma túy còn lại, Trần Trung K bán lẻ hết cho nhiều người khác (không rõ lai lịch).
Ngày 02/5/2024, Trần Trung K tiếp tục mua của “N2” 25 gam Methamphetamine, khối lượng này bị thu giữ khi khám xét.
- Nguyễn Thanh P khai phù hợp lời khai Trần Trung K về việc mua ma túy loại Methamphetamine từ Trần Trung K. Khối lượng ma túy mua được, Nguyễn Thanh P phân chia thành gói khoảng 0,1 gam để sử dụng và bán cho nhiều người (không rõ lai lịch), với giá 200.000 đồng/gói. Ngày 13/4/2024, Nguyễn Thanh P mua của Trần Trung K 1.900.000 đồng ma túy loại Methamphetamine (khoảng 05 gam), sử dụng một phần và bán 0,1 gam cho 01 người (không rõ lai lịch) tại khu vực phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, số còn lại bị thu giữ khi khám xét. Ngày 19/4/2024, Nguyễn Thanh P tiếp tục mua của Trần Trung K 3.800.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine (khoảng 10 gam). Đến khoảng 13 giờ ngày 08/5/2024, đối tượng nam (không rõ lai lịch) gọi từ tài khoản Zalo “A.T” đến Zalo của Nguyễn Thanh P nhưng Lê Tấn T nghe điện thoại nên nhận thông tin người này hỏi mua 10 gam ma túy loại Methamphetamine, hẹn giao đến ngã tư Bàu Đá, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Lê Tấn T báo lại nội dung cuộc gọi với Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh P báo giá bán 4.300.000 đồng và bảo Lê Tấn T lấy 01 gói ma túy loại Methamphetamine mà Nguyễn Thanh P giấu tại giường ngủ bỏ vào bao thuốc lá Hero để mang đi giao cho người đặt mua. Do Nguyễn Thanh P và Lê Tấn T sống chung như vợ chồng nên Lê Tấn T đồng ý giúp Nguyễn Thanh P đem ma túy đi giao. Ngoài ra, khoảng tháng 4/2024, Nguyễn Thanh P còn mua của đối tượng nam tại khu vực quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ địa điểm) 500.000 đồng mảnh vụn viên nén ma túy loại MDMA để bán, đã bị thu giữ khi khám xét nhưng giám định không tìm thấy ma túy.
- Lê Tấn T có lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Thanh P về việc giúp Nguyễn Thanh P đi giao ma túy 01 lần vào ngày 08/5/2024.
Kết quả xác minh tại Trung tâm tính cước và thanh khoản - Công ty Thông tin di động Mobifone khu vực 2 xác định: số điện thoại 0931.641.xxx do Nguyễn Thanh P đăng ký thuê bao; số điện thoại 0908.830.xxx do Trần Trung K đăng ký thuê bao; số điện thoại 0906.718.xxx do Mai Tuấn T2 (sinh năm: 1978, thường trú: khu S, xã H, huyện T, tỉnh P) đứng tên đăng ký thuê bao, nhưng Mai Tuấn T2 xác định không sử dụng số điện thoại 0906.718.xxx, không cho người khác mượn chứng minh nhân dân để đăng ký hòa mạng và cũng không quen biết người sử dụng số điện thoại này.
Tại Công văn số 775/2024/CVZA-VNG ngày 15/7/2024 của Công ty cổ phần VNG thông tin: số điện thoại 0931.641.xxx đã ngừng hoạt động, thời gian khởi tạo tài khoản: 25/01/2023, bị xóa ngày 07/7/2024; số điện thoại 0980.830.xxx không có tài khoản Zalo; không hỗ trợ xác minh thông tin tài khoản “Club De N2”, “A.T” do không đủ dữ liệu (không có số điện thoại, mã QR, danh thiếp), tài khoản Zalo “Nkư T” đăng ký không có thông tin liên quan đến nội dung mua bán ma túy.
Đối với đối tượng “N2” và các đối tượng mua ma túy của Trần Trung K, Nguyễn Thanh P, do Trần Trung K và Nguyễn Thanh P khai không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra.
Tại bản Cáo trạng số 282/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 24/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lê Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Trung K từ 16 năm đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 10.000.000 đồng. Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 141/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân quận G, thành phố H đã xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng. Buộc bị cáo Trần Trung K phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 18 năm 03 tháng đến 19 năm 03 tháng tù.
- + Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 10 năm đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tấn T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Trung K trình bày: Luật sư thống nhất với quan điểm truy tố như Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Trần Trung K các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có bà nội là người có công cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Trần Trung K mức hình phạt 15 năm tù cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo.
Bị cáo Trần Trung K đồng ý với nội dung bào chữa của Luật sư, không bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận; các bị cáo Nguyễn Thanh P, Lê Tấn T không tham gia tranh luận.
Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư không cung cấp được tài liệu chứng minh cho quan hệ giữa bà Trần Thị Hoa và bị cáo Trần Trung K nên không có cơ sở chấp nhận quan điểm về áp dụng tình tiết giảm nhẹ là gia đình bị cáo có công cách mạng.
Các Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Thanh P, Lê Tấn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản ghi lời khai, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 08/5/2024, tại trước địa chỉ số 14/6/15 Đường số 65, ấp Xóm Đồng A, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an huyện Củ Chi phát hiện Lê Tấn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,0728 gam loại Methamphetamine. Cùng ngày, cơ quan Công an tiến hành khám xét nơi ở của Lê Tấn T tại phòng số 5, khách sạn Lunar 2, ấp Xóm Đồng A, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 4,4154 gam Methamphetamine. Thời điểm khám xét có mặt Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh P khai số ma túy tại phòng và gói ma túy giao cho Lê Tấn T đều là của Nguyễn Thanh P. Mở rộng điều tra, ngày 09/5/2024, cơ quan Công an khám xét chỗ ở của Trần Trung K tại 8/7C Phan Huy Ích, Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 26,1043 gam Methamphetamine cùng nhiều dụng cụ liên quan.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 4/2024, Trần Trung K nhiều lần mua ma túy, loại Methamphetamine từ đối tượng “N2” để sử dụng và các đối tượng không rõ lai lịch, trong đó bị cáo Nguyễn Thanh P; lời khai của Trần Trung K và Nguyễn Thanh P phù hợp về 02 lần Trần Trung K đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh P với tổng số tiền 5.700.000 đồng.
[3] Hành vi của bị cáo Trần Trung K là đặc biệt nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh P, Lê Tấn T là rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gieo rắc tệ nạn ma túy, ảnh hưởng đến hoạt động phòng, chống tội phạm về ma túy, là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác, tội phạm khác. Do đó, cần xử lý nghiêm đê giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Trần Trung K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma túy bị thu giữ khi khám xét và số ma túy đã bán cho bị cáo Nguyễn Thanh P là 40,5925 gam ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Trần Trung K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma túy bị thu giữ khi khám xét và khối lượng ma túy khi bắt quả tang bị cáo Lê Tấn T là 14,4882 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Tấn T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy 10,0728 gam loại Methamphetamine bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Lê Tấn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Thanh P, Lê Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Trung K là người có nhân thân xấu. Tại Bản án số 141/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân quận G, thành phố H đã xử phạt bị cáo Trần Trung K 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng, song bị cáo đã không nhận thức đúng đắn sự khoan hồng của pháp luật, không lấy đó làm bài học để sửa chữa hành vi, mà ngược lại, trong thời gian thử thách của Bản án treo, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội mới - lần này là hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn, tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật, do đó cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của Bản án trước và tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật Hình sự và áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn phạm tội từ hai lần trở lên - tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lê Tấn T không có tình tiết tăng nặng.
Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo Lê Tấn T thực hiện với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo Nguyễn Thanh P trong việc mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nên áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Bị cáo Trần Trung K thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy hưởng lợi, cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.
Từ các phân tích nêu trên, là quan điểm của Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm luận tội, tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên và không chấp nhận quan điểm bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Trung K.
[5] Xử lý vật chứng:
- - 03 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 5739 (1764) 24 Gói 1, Gói 2, Gói 3, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bao thuốc lá hiệu Hero; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 02 cái kéo; 02 bật lửa; 10 gói nylon không chứa gì, là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số imei: 864097040526114; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 358624070994020; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 355733073030386; 01 điện thoại di động hiệu REALME; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG; 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, biển số 54R5-1557; 02 cân điện tử, là phương tiện các bị cáo liên lạc, sử dụng thực hiện hành vi phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số imei: 864267043874635, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Lê Tấn T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Trung K: 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án số 141/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân quận G, thành phố H đã xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng.
Tổng hợp hình phạt của cả hai Bản án, buộc bị cáo Trần Trung K phải chấp hành hình phạt chung là 18 (mười tám) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024, nhưng được trừ thời hạn tam giam từ ngày 24/01/2021 đến ngày 08/7/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Trung K 5.000.000 đồng.
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P: 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Tấn T: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 5739(1764)24 Gói 1, Gói 2, Gói 3 có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Quốc (PC09) và Điều tra viên Nguyễn Xuân Trấn (CAH. Củ Chi), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bao thuốc lá hiệu Hero; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cái kéo; 02 bật lửa; 10 gói nylon không chứa gì.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imei: 864097040526114, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong máy không kiểm tra (thực nhận 01 điện thoại di động Oppo màu tím, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 358624070994020, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong máy không kiểm tra (Imei khay sim: 358624070994020, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 355733073030386, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong máy không kiểm tra (Imei khay sim: 355733073030386, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại đi động hiệu Realme, số imei: 869566047702592, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong máy không kiểm tra (không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số imei: 351022370374280/01, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong máy không kiểm tra (màn hình bể nát, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave RSX, dung tích xi lanh: 109,1, biển số: 54R5-1557, số khung: RLHJC4323AY254868, số máy: JC43E5731685 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra được); 02 cân điện tử.
- Trả lại cho bị cáo Lê Tấn T: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imei: 864267043874635, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong máy không kiểm tra (thực nhận 01 điện thoại di động Oppo màu xanh, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong).
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/382 ngày 26/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.)
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Viết Hùng |
Bản án số 290/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 290/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung K và đồng phạm, phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
