Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 290/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lâm

Ông Phùng Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 11/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 428/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Huyền T năm 1983; HKTT: Tổ B, phường T, quận L, thành phố Hà Nội (nay là: số nhà A đường N, tổ B phường T, quận L, thành phố H trú tại: số H ngõ F N, Đ, quận L, thành phố Hà Nội(có mặt)

- Bị đơn: Anh Kiều C T1sinh năm 1980; HKTT và trú tại: Tổ B, phường T, quận L, thành phố Hà Nội (nay là: số nhà A đường N, tổ B phường T, quận L, thành phố Hà Nội. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Lê Thị Huyền T1 trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh T1kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường T, thành phố H khi kết hôn anh chị chung sống tại tổ B phường T, quận L, thành phố Hà Nội(là nhà của bố mẹ chồng chị) khoảng 3 năm thì vợ chồng chị thuê nhà ra ở riêng. Đến năm 2020, anh chị lại quay trở lại nhà bố mẹ chồng sống cho đến tháng 9 năm 2023 thì chị về nhà mẹ đẻ ở tại số A D, phường Đ, quận L, thành phố H chồng anh chị trong quá trình sống chung thỉnh thoảng cũng có phát sinh mâu thuẫn nhưng lúc đầu chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng từ đầu năm 2022 khi chị đẻ cháu Kiều C T2được vài tháng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị đẻ cháu thứ tư, kinh tế khó khăn, anh T2 đưa tiền cho chị để nuôi con. Trước đó, anh T3 đưa tiền cho chị để cùng nuôi 03 con nhưng cũng chỉ đưa khoảng 5.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên khi sinh cháu thứ 4 thì chi phí trong gia đình tăng lên nhưng anh T1không đưa thêm tiền cho chị nuôi con, dẫn đến vợ chồng căng thẳng. Chị vừa phải đi làm và buôn bán thêm, vừa phải nuôi con nhỏ vất vả, anh T1không cùng vun vén và hỗ trợ cho chị. Quan điểm của vợ chồng bất đồng, nói chuyện với nhau vài lần nhưng không giải quyết được mâu thuẫn, dần dần tình cảm vợ chồng nhạt dần không trao đổi gì với nhau nữa. Tháng 9 năm 2023 do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng quá nên chị về nhà mẹ đẻ ở (địa chỉ: Số A ngõ D, phường Đ, quận L, TP .một thời gian và sau đó thuê nhà ở bên ngoài ở và không sống cùng anh T1từ đó cho đến nay. Vợ chồng anh chị chấm dứt quan hệ sinh lý từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Đỉnh điểm là tháng 7 năm 2024 giữa chị và anh T1có cãi nhau tại nhà em gái chị tại số nhà B, ngõ H, phường V, quận L, thành phố Hà Nội, anh T1bóp cổ, đấm, đá chị. Ngay sau đó, chị và anh T1có về nhà bố mẹ chồng chị và chị có gọi Công an phường Thượng Thanh đến để giải quyết, nhưng chỉ khuyên giải, không lập biên bản.

Nay chị xác định không còn tình cảm gì với anh T1và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T4.

- Về con chung: Anh chị có 04 con chung tên là Kiều Chí T2sinh ngày 30/10/2021; Kiều Lệ Xsinh ngày 11/11/2007; Kiều Lệ Hsinh ngày 08/4/2014 và Kiều Lệ T3sinh ngày 14/12/2012.

Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu Kiều Lệ X chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao 03 cháu Kiều Chí T Lệ H T3cho anh T1trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con là Kiều Chí T2Kiều Lệ Hvà Kiều Lệ T3cho anh Kiều C T1là 1.000.000 đồng/tháng/con (Một triệu đồng một tháng cho một con). Anh T1không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Kiều Lệ X chị.

Chị hiện đang làm tại Công ty TNHH B 15.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Tòa án, bị đơn – anh Kiều Chí T4 trình bày:

- Về tình cảm: Anh T1xác nhận chị T5 bày về việc đăng ký kết hôn và thời gian chung sống ở nhà bố mẹ anh sau kết hôn, sau đó ra ở riêng rồi lại quay về nhà bố mẹ anh sống là đúng. Chị Tó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và căng thẳng hơn kể từ khi sinh thêm cháu thứ 4 là cháu Kiều C T2là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là gánh nặng về kinh tế khi sinh thêm con thứ 4, chi tiêu không đủ nên vợ chồng hay cãi nhau. Chị T7 cầu anh đưa 10.000.000 đồng/01tháng để chi tiêu gia đình, nhưng anh không đưa được một lần mà đưa rải rác nhiều lần, có khi nợ sang tháng sau nên chị T8 đồng ý. Vợ chồng mâu thuẫn, dần dần không trao đổi, chia sẻ gì với nhau nữa. Tháng 9 năm 2023, chị T9 khỏi nhà anh về sống ở nhà ông bà ngoại, thỉnh thoảng anh vẫn đi lại thăm chị T10 chồng anh chị chấm dứt quan hệ sinh lý từ lúc chị T11 Dkhỏi nhà bố mẹ anh, thuê nhà ra ở riêng vào tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Chị T6 tháng 7 năm 2024 giữa anh và chị T12 cãi nhau tại nhà em gái chị T13 số nhà B, ngõ H, phường V, quận L, thành phố H đúng. Do nóng giận nên anh có bóp cổ chị TSau đó, vợ chồng anh chị về nhà và chị T12 gọi công an phường Tđến giải quyết nhưng họ chỉ hoà giải giữa hai bên, không lập biên bản.

Nay trước yêu cầu xin ly hôn của chị T14 vẫn muốn hòa giải cho vợ quay về. Anh xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị T14 sẽ quan tâm vợ hơn và sẽ chu cấp nhiều tiền hơn cho vợ để nuôi con.

- Về con chung: Anh chị có 04 con chung tên là Kiều Chí T2sinh ngày 30/10/2021; Kiều Lệ Xsinh ngày 11/11/2007; Kiều Lệ Hsinh ngày 08/4/2014 và Kiều Lệ T3sinh ngày 14/12/2012.

Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu Kiều Lệ X chị T15 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao 03 cháu Kiều Chí T Lệ H T3cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T16 góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con ( Kiều Chí T Lệ Hvà Kiều Lệ T): 1.000.000đồng/tháng/cháu (Một triệu đồng một tháng cho một con), anh đồng ý. Anh không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Kiều Lệ X chị T

Anh hiện đang làm việc tại Tổng Công ty Đ– Chi nhánh T22. Thu nhập bình quân 8.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, anh dạy thêm lái xe ô mỗi tháng thu nhập nhập thêm là 10.000.000 đồng.

- Về tài sản chung và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà: Chị T18 anh T4 vẫn giữ ý kiến như đã trình bày, chị Tđề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh T1không đồng ý ly hôn. Về con chung: Chị T18 anh T4 cùng thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Kiều Lệ X chị T15 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao 03 cháu Kiều Chí T Lệ H T3cho anh T1trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T16 góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con là Kiều Chí T2Kiều Lệ Hvà Kiều Lệ T3cho anh Kiều C T1là 1.000.000 đồng/tháng/cháu (Một triệu đồng một tháng cho một con). Anh T1không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Kiều Lệ X chị T17 Về tài sản chung và công nợ: Anh chị cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tại phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T18 anh T4 kết hôn hợp pháp có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường T, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị T18 anh T1tại Toà án cũng như tại phiên toà, phù hợp với cung cấp của chính quyền địa phương, xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T18 anh T4 đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T và xử cho chị T21 ly hôn với anh T4

Về con chung: Chị T18 anh T1cùng xác nhận anh chị có 04 con chung tên là Kiều Chí T2sinh ngày 30/10/2021; Kiều Lệ Xsinh ngày 11/11/2007; Kiều Lệ Hsinh ngày 08/4/2014 và Kiều Lệ T3sinh ngày 14/12/2012. Hiện cháu Kiều Lệ X1 ở cùng với mẹ. Còn 03 cháu là Kiều Chí T2Kiều Lệ Hvà Kiều Lệ T3đang sống cùng bố.

Tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, chị T18 anh T1cùng thỏa thuận trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án giao cháu Kiều Lệ X chị T(mẹ) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao 03 cháu Kiều Chí T Lệ H T3cho anh T4(bố) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T16 góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con là Kiều Chí T2Kiều Lệ Hvà Kiều Lệ T3cho anh Kiều C T1là 1.000.000 đồng/tháng/con (Một triệu đồng một tháng cho một con). Anh T1không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Kiều Lệ X chị TViệc thỏa thuận về giao nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị T18 anh T1là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ: Chị T18 anh T4 cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Tại thời điểm chị Lê Thị Huyền T1 nộp đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn là anh Kiều Chí T4, anh T4 cư trú tại địa chỉ: Số nhà A, tổ B phường T, quận L, TP .. Do đó, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo lãnh thổ và loại việc quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Huyền T18 anh Kiều Chí T4 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T23, quận L, thành phố Hà Nội là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của chị T18 anh T1phù hợp với xác minh tại chính quyền địa phương, xác nhận chị T18 anh T4 mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 9 năm 2023 và chấm dứt quan hệ sinh lý và sống ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T18 anh T4 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị T19 đơn xin ly hôn anh T4 là có căn cứ và phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị T18 anh T4 xác nhận có 04 con chung tên là Kiều Chí T2sinh ngày 30/10/2021; Kiều Lệ Xsinh ngày 11/11/2007; Kiều Lệ Hsinh ngày 08/4/2014 và Kiều Lệ T3sinh ngày 14/12/2012.

Tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, chị T18 anh T1cùng thỏa thuận trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án giao cháu Kiều Lệ X chị T(mẹ) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao 03 cháu Kiều Chí T Lệ H T3cho anh T4(bố) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T16 góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con (Kiều Chí T Lệ Hvà Kiều Lệ T) cho anh T11.000.000đồng/tháng/con (Một triệu đồng một tháng cho một con). Anh T1không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Kiều Lệ X chị T Việc thỏa thuận về giao nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị T18 anh T1là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ: Do các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Huyền T20 anh Kiều Chí T4 và xử như sau:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Huyền T21 ly hôn với anh Kiều Chí T4
  2. Về con chung:
    1. Chị Lê Thị Huyền T18 anh Kiều Chí T4 xác nhận có 04 (bốn) con chung tên là Kiều Chí T2sinh ngày 30/10/2021; Kiều Lệ Xsinh ngày 11/11/2007; Kiều Lệ Hsinh ngày 08/4/2014 và Kiều Lệ T3sinh ngày 14/12/2012.
    2. Giao cháu Kiều L X cho chị Lê Thị Huyền T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Kiều C T2Kiều Lệ Hvà Kiều Lệ T3 cho anh Kiều Chí T4 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T16 góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con (Kiều Chí T Lệ Hvà Kiều Lệ T) cho anh Kiều Chí T4: 1.000.000đồng/tháng/con (Một triệu đồng một tháng cho một con) kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi mỗi cháu (cháu Kiều Chí T Lệ H T3trưởng thành hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh T1không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu Kiều Lệ X chị Lê Thị H T.
    3. Chị Lê Thị Huyền T18 anh Kiều Chí T4 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
  3. Về tài sản chung: Toà án không giải quyết.
  4. Về công nợ: Toà án không giải quyết.
  5. Án phí: Chị Lê Thị Huyền T1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số 51406 ngày 01/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Lê Thị Huyền T18 anh Kiều Chí T4 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND T.p Hà Nội;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - Chi cục THADS quận Long Biên,
  • - UBND phường T, quận L, T.p H
  • (Nơi đăng ký kết hôn ngày 26/9/2006)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 290/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 290/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 290.BA Thu Tâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger