Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 290/2025/DS-PT

Ngày: 05/6/2025.

V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

2/ Bà Võ Bích Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 243/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Ngô Hoàng D, sinh năm 1979; Có mặt.

    Nơi cư trú (ghi nhận theo văn bản ủy quyền): Số G, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

    Địa chỉ liên hệ (cung cấp tại cấp phúc thẩm): Giặt sấy 3H – Số B, đường số D, Khu dân cư H (Khu B), khu vực 2, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  2. Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1979; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Nơi cư trú: Số B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Văn Đ, sinh năm 2001; Nơi thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Địa chỉ liên hệ: Số B, đường số B, Khu dân cư H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 19/8/2024); Vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1978; Có mặt.

Nơi cư trú: Số C, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trương Thanh P, sinh năm 1970; Nơi cư trú: F, đường N, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 10/02/2025); Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Chống Bảo L, sinh năm 1988.

    Nơi cư trú: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Có mặt.

  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1984.

    Nơi cư trú: Số C, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Có mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T (có ông Hà Văn Đ đại diện) trình bày:

Vào ngày 14/10/2022, vợ chồng bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T cho bà Nguyễn Thị Ngọc B vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 08 ngày kể từ ngày 15/10/2022 đến ngày 22/10/2022, lãi suất thỏa thuận theo quy định pháp luật là 20%/năm. Để đảm bảo cho việc vay tiền, bà B giao cho bà D và ông T 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó bà B đã xin nhận lại 02 Giấy chứng nhận; hiện nguyên đơn còn giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 595019 (số vào số CS05167) ngày 30/8/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà B (bản chính).

Đã quá thời hạn vay nhưng bị đơn không trả tiền gốc và tiền lãi nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà B phải trả cho bà D, ông T số tiền vay 300.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 14/10/2022 đến khi trả hết nợ với mức lãi suất 20%/năm.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B trình bày:

Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T. Số tiền vay 300.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 14/10/2022 là do bà nhận từ bà Chống B1 Liên thông qua việc chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q của bà L đến tài đến tài khoản Ngân hàng của bà mở tại Ngân hàng TMCP N. Vào ngày 21/10/2022, bà đã chuyển trả thông qua việc chuyển khoản Ngân hàng, cụ thể là từ tài khoản của bà Nguyễn Thị Ngọc H(em ruột bà) mở tại Ngân hàng TMCP N đến tài khoản Ngân hàng TMCP Q của bà Chống Bảo L.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt có từng ý kiến như sau:

- Bà Chống Bảo L trình bày:

Bà xác định số tiền 300.000.000 đồng theo Biên nhận nợ ngày 14/10/2022 là của bà Ngô Hoàng D cho bà Nguyễn Thị Ngọc B vay. Số tiền này được bà D nhờ bà chuyển cho bà B từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q của bà vào tài khoản Ngân hàng TMCP N của bà B (chuyển sau khi bà B ký Biên nhận vay tiền). Đến thời điểm hiện tại, bà B vẫn chưa trả số tiền vay 300.000.000 đồng trên cho bà D. Đối với các

khoản tiền bà Nguyễn Thị Ngọc H chuyển cho bà là giao dịch riêng giữa bà và bà H, không liên quan đến số tiền vay giữa bà D và bà B.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Vào ngày 21/10/2022, bà đã chuyển cho bà C Bảo Liên số tiền 300.000.000 đồng để trả nợ thay cho bà Nguyễn Thị Ngọc B đối với số tiền vay theo Biên nhận ngày 14/10/2022. Việc trả tiền được bà chuyển từ tài khoản Ngân hàng N của bà đến tài khoản Ngân hàng TMCP Q của bà Chống Bảo L.

* Tại phiên tòa sơ thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ ý kiến như đã trình bày, yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và lãi suất 10%/năm (tính từ ngày 14/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 27 tháng) thành tiền 67.500.000 đồng, tổng cộng 367.500.000 đồng. Nguyên đơn đồng ý trả lại cho bị đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 595019 (số vào sổ CS05167) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 30/8/2016 (bản chính).

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì cho rằng số tiền vay theo biên nhận ngày 14/10/2022 bị đơn đã trả cho nguyên đơn. Tại thời điểm vay tiền, hai bên có thỏa thuận việc trả lãi nhưng không xác định cụ thể tiền lãi mà chỉ thỏa thuận sẽ tính toán tại thời điểm trả nợ.

Bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Vào ngày 21/10/2022, bà đã chuyển cho bà C Bảo Liên 03 lần tiền thông qua tài khoản Ngân hàng của hai bên, cụ thể: 02 lần 50.000.000 đồng và 01 lần 400.000.000 đồng, tổng cộng là 500.000.000 đồng. Trong đó, có 300.000.000 đồng là tiền chuyển trả nợ thay cho bà B theo biên nhận ngày 14/10/2022. Tại thời điểm chuyển tiền, bà không ghi nhận nội dung của các khoản tiền được chuyển nhưng sau đó bà đã thông báo cho bà L biết việc trả tiền (thông báo bằng hình thức điện thoại nói, chứ không nhắn tin kèm theo).

Bà Chống Bảo L vẫn giữ ý kiến như đã trình bày.

Tại bản án dân sự dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DSST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Hoàng D và ông Phạm Hồng T.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc B phải trả cho bà Ngô Hoàng D và ông Phạm Hồng T số tiền là 367.500.000 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu đồng), trong đó tiền gốc là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 67.500.000 (Sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Bà Ngô Hoàng D và ông Phạm Hồng T có trách nhiệm trả lại bà Nguyễn Thị Ngọc B bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 595019 (Số vào sổ CS05167) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 30/8/2016 cho bà Nguyễn Thị Ngọc B.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Tại đơn kháng cáo (xác nhận bưu cục gửi đi ngày 25/01/2025), bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, của đương sự khác và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay và lãi suất theo Giấy vay vốn ngày 14/10/2022. Trong đó: bị đơn cư trú tại địa giới hành chính quận N nên Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

Riêng, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B cho rằng: không đồng ý với bản án sơ thẩm nên kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về thủ tục tố tụng tại cấp phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn (ông Hà Văn Đ, ông Trương Thanh P) văng mặt; nhưng nguyên đơn bà Ngô Hoàng D, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B đều có mặt và xác định rằng: các bà trực tiếp tham gia tố tụng và đồng ý vắng mặt người đại diện; riêng, đồng nguyên đơn ông Phạm Hồng T có đơn đề

nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Xét kháng cáo của đương sự:

Hội đồng xét xử xét thấy:

[5.1] Quá trình tố tụng, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và lãi suất 10%/năm (tính từ thời điểm vay ngày 14/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/01/2025 là 27 tháng) thành tiền 67.500.000 đồng, tổng cộng là 367.500.000 đồng; theo đó, nguyên đơn đồng ý trả lại cho bị đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 595019 (số vào sổ CS05167) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 30/8/2016 (bản chính).

[5.2] Bị đơn thừa nhận có thiết lập Giấy vay vốn ngày 14/10/2022. Do đó, đây là tình tiết sự kiện, không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Dẫn chiếu nội dung Giấy vay vốn (Bút lục: 118) thể hiện như sau:

Hôm nay (ngày 14.10.22)

Tôi Nguyễn Thị Ngọc B có mượn của chị Ngô Hoàng D số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Trong thời gian từ ngày 15.10.22 đến 22.10.22 sẽ hoàn trả lại.

Lãi suất thỏa thuận.

Tôi có gửi chị D 3 Giấy CNQSDĐ (2 Cờ Đỏ + 1 Cái Khế).

(Ký và ghi rõ họ tên Nguyễn Thị Ngọc B).

Trong đó: Bị đơn thừa nhận cùng ngày 14/10/2022 nhận chuyển khoản 300.000.000 đồng từ tài khoản của bà Chống Bảo L; góc độ bà L xác định: nguồn tiền chuyển cho bà B là của nguyên đơn (bà D), bà L chuyển thay/dùm. Từ sự thừa nhận và ý kiến của các bên là cơ sở xác định: số tiền chuyển khoản cho bà B có nguồn gốc thể hiện theo Giấy vay vốn (nêu trên).

[5.3] Như vậy, giao dịch giữa các bên thuộc Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên bên vay có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi khi đến hạn theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Bị đơn cho rằng đã trả khoản tiền vay này thông qua việc bà Nguyễn Thị Ngọc H (em ruột bị đơn) chuyển khoản cho bà Chống Bảo L (có bà H xác định sự việc chuyển khoản trả nợ thay như bà B trình bày). Tuy nhiên, xét thông tin sao kê Ngân hàng vào ngày 21/10/2022 thể hiện: Trong cùng ngày, bà H chuyển khoản cho bà L 03 lần gồm lần 1 chuyển 50.000.000 đồng, lần 2 chuyển 50.000.000 đồng và lần 3 chuyển 400.000.000 đồng; tổng cộng là 500.000.000 đồng. Song, nội dung chi tiết chỉ ghi nhận “NGUYEN THI NGOC HIEU chuyen tien CHONG BAO LIEN” (Bút lục: 73 – 74); góc độ bà L không thừa nhận trong tổng số tiền bà L nhận 500.000.000 đồng có 300.000.000 đồng là trả khoản vay của bà D (như bà H trình bày); đồng thời, bà L cho rằng: giữa bà và bà H có mối quan hệ làm ăn nên vẫn

thường chuyển tiền cho nhau. Không chỉ thế, theo Giấy vay vốn có ghi nhận “Lãi suất thỏa thuận” và thời gian vay tính bằng ngày được xem là dạng “vay nóng” (từ ngữ được sử dụng trong nhân dân); nhưng với từng khoản tiền phía bị đơn cho rằng chuyển trả nợ vay đều là những số tiền tròn như liệt kê trên. Nên không có căn cứ xem xét thỏa mãn ý kiến bà T1, bà H về việc đã trả khoản tiền vay (có lãi suất).

Đối với các đoạn ghi âm được thiết lập thành Vi bằng (do bị đơn cung cấp), được nguyên đơn (bà D) thừa nhận giọng nói của mình trong cuộc trò chuyện với bà T1 (tại phiên tòa phúc thẩm), nhưng nội dung không thể hiện cụ thể rõ ràng về việc bị đơn đã trả tiền vay cho nguyên đơn và được nguyên đơn xác nhận sự việc. Nên không là cơ sở xem xét cho lời trình bày của bị đơn về vấn đề này.

[5.4] Từ những viện dẫn trên cho thấy: Bị đơn cho rằng đã trả tiền vay nhưng không có căn cứ xác thực, nguyên đơn không thừa nhận. Hơn nữa, việc trả nợ xong (nếu có) trong khi nguyên đơn vẫn quản lý của bị đơn 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) nhưng bị đơn không có bất kỳ động thái nào về yêu cầu hoặc khởi kiện cho đến khi nguyên đơn khởi kiện mới nại ra vấn đề này được xem là không phù hợp với lý lẽ thông thường khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

[6] Với những căn cứ nêu trên và sự tự nguyện định đoạt của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn 300.000.000 đồng (tiền vay gốc) và tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm [tương ứng: 300.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm 03 tháng (tính từ thời điểm vay ngày 14/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/01/2025)] thành (lãi) 67.500.000 đồng, tổng cộng 367.500.000 đồng là có căn cứ và hoàn toàn có lợi cho bị đơn. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh về cách tuyên trong khuôn khổ luật định.

Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.

[7] Đối với trường hợp cho rằng giao dịch giữa bà Nguyễn Thị Ngọc H với bà Chống Bảo L ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhau thì bà H có quyền khởi kiện thành vụ việc khác theo thủ tục tố tụng dân sự như cấp sơ thẩm nhận định là thỏa đáng.

[8] Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải chịu án phí là đúng quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[9] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân và hướng dẫn tại Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án.

[10] Từ những phân tích trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Áp dụng:

  • - Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T.

    Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc B phải trả cho bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T số tiền là 367.500.000 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng); trong đó: tiền gốc 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi 67.500.000 (Sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 595019 (số vào sổ CS05167) ngày 30/8/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc B (bản chính).
  3. Về án phí dân sự:
    • - Án phí sơ thẩm:

      Bà Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 18.375.000 đồng (Mười tám triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

      Bà Ngô Hoàng D, ông Phạm Hồng T được nhận lại 10.217.000 đồng (Mười triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0002089 ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    • - Án phí phúc thẩm:

      Bà Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0005726 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thành án phí phải chịu (đã thực hiện xong).

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7bà 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trang Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 290/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 290/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger