|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT TÚ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 5 - 2024 V/v xin ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tuấn Kiệt
- Ông Lương Phi Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên toà: Thuộc trường hợp không tham gia.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐHPT-HNGĐ, ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số 88/27, đường Cách mạng tháng tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp Đông Thạnh B, xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2023 và qua quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn anh Trần Quốc T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Bích L do tự quen biết nhau, tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 141, ngày 12/11/2013.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do gặp khó khăn về kinh tế nên cả hai thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Từ đó, anh T nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên anh xin được ly hôn với chị L.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Quốc T và chị Nguyễn Thị Bích L có 02 con chung là cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 05/4/2014 và Nguyễn Kim T, sinh năm 07/02/2018. Hiện tại hai cháu đang sống chung với anh T tại Cần Thơ. Anh Trần Quốc T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn anh Trần Quốc T có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 25/05/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị Bích L đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, việc vắng mặt của các đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Trần Quốc T và chị Nguyễn Thị Bích L.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Theo lời trình bày của anh T thì giữa anh và chị Nguyễn Thị Bích L Anh và chị Nguyễn Thị Bích L do tự quen biết nhau, tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 141, ngày 12/11/2013. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do gặp khó khăn về kinh tế nên cả hai thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Từ đó, anh T nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên xin được ly hôn với chị L.
Đối với chị L, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh vẫn không tham gia và cũng không có văn bản nào trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, nên chị đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình. Vì vậy, chị L phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.
Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa anh T và chị L đã rơi vào tình trạng trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thêm nữa, anh T trình bày giữa anh và chị L đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Trần Quốc T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Bích L.
[3] Về con chung: Anh Trần Quốc T trình bày giữa anh và chị Nguyễn Thị Bích L có 02 con chung là cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 05/4/2014 và Nguyễn Kim T, sinh năm 07/02/2018. Hiện tại hai cháu đang sống chung với anh T tại Cần Thơ. Anh Trần Quốc T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu. Do chị L không thực hiện nghĩa vụ chứng minh và cũng không có văn bản nào trình bày ý kiến của chị đối với yêu cầu này của anh T. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu Nguyễn Kim A và Nguyễn Kim T cho anh Trần Quốc T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị Bích L không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T chưa có yêu cầu, nên chị L chưa phải cấp dưỡng.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Quốc T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Trần Quốc T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc T.
Xử cho anh Trần Quốc T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Bích L.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 05/4/2014 và Nguyễn Kim T, sinh năm 07/02/2018 cho anh Trần Quốc T được trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị L không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T chưa có yêu cầu, nên chị L chưa phải cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh Trần Quốc T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh T đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012381, ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Do đó, anh T đã nộp xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn. Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Toàn |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thanh - Liễu tranh chấp ly hôn
