|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30-7-2024
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Kiều Thị Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về vệc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc Đ kết hôn với nhau ngày 27/8/2017, trước khi cưới có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh Đ tại thôn Q, xã Đ, huyện T. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 02 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường xuyên xảy ra xô xát. Tháng 3 năm 2021 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị C dọn ra ngoài sinh sống, vợ chồng chấm dứt quan hệ tình cảm, sống ly thân, không quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau từ đó cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ, vợ chồng không thể hàn gắn được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 05/11/2014 và cháu Nguyễn Mạnh Đ1, sinh ngày 13/12/2017, đều đang ở cùng chị C. Ly hôn, chị đề nghị để được nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con chung, chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, công sức: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án không ghi nhận được quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị C, cho chị Trần Thị C ly hôn anh Nguyễn Ngọc Đ. Về con chung: Giao cho chị T được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 05/11/2014 và cháu Nguyễn Mạnh Đ1, sinh ngày 13/12/2017. Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Đ, anh Đ có nơi cư trú tại xã Đ, huyện T. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Ngọc Đ, mặc dù anh Đ có mặt tại địa phương và biết việc chị C xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân huyện Tam Dương nhưng anh Đ không đến Tòa án để làm việc. Anh Đ cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị C và anh Nguyễn Ngọc Đ kết hôn với nhau ngày 27/8/2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn do có nhiều bất đồng quan điểm và không tin tưởng lẫn nhau, từ tháng 3/2021 đến nay anh chị đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Đ nhiều lần đến làm việc, mặc dù anh Đ biết việc chị C xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân huyện Tam Dương nhưng cố tình trốn tránh, không hợp tác, không đến Tòa làm việc, gây khó khăn cho chị C và Tòa án, thể hiện anh Đ không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng. Xét thấy hôn nhân giữa chị C và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung đã không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị C xin ly hôn anh Đ là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị C và anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 05/11/2014 và cháu Nguyễn Mạnh Đ1, sinh ngày 13/12/2017, nay đang ở cùng chị C. Ly hôn chị C nhận nuôi hai cháu. Xét thấy chị C có nghề nghiệp ổn định và có thu nhập, đủ điều kiện để tiếp tục nuôi con chung. Anh Đ không đến Tòa án làm việc, không đưa ra quan điểm về việc nuôi con. Do vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu N, cháu Đ1 cần giao cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, cháu Đ1. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C.
[4] Về tài sản, công nợ, công sức: Chị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Trần Thị C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị C ly hôn anh Nguyễn Ngọc Đ.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 05/11/2014 và cháu Nguyễn Mạnh Đ1, sinh ngày 13/12/2017. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: Chị Trần Thị C phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo Biên lai tiền tạm ứng án phí số 0006912 ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Minh Hoàng |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ch - Nguyễn Ngọc Đ (Ly hôn)
