|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2023/DS-PT
Ngày 29 -11 - 2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân
Bà Nguyễn Thị Thu Lan
Thư ký phiên tòa: Ông Lã Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Mạc Minh Song - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 32/2023/QĐPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Thị Bích L. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Bị đơn: Chị Lý Thị Bích L1. Có mặt
Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. UBND thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tăng Kết D – Chức vụ: Chủ tịch.
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
2. Anh Hoàng Thanh H. Vắng mặt (anh H ủy quyền cho chị Lý Thị Bích L1 tham gia tố tụng. Văn bản ủy quyền ngày 31-10-2023)
Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Khắc L2. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T1. Có mặt
Cùng địa chỉ: Tổ C, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Thị Bích L và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Năm 1983 chị được ông Nguyễn Khắc Đ cho một diện tích đất khoảng 800m² là nương sắn (Nằm trên đường P, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái hiện nay). Thời điểm đó chị mới 16 tuổi nên ông Đ có nói nhờ đại diện gia đình bảo lãnh nên chị đã nhờ bố là ông Lý Kim T2.
Năm 1984 chị đã dựng 01 căn nhà tre 02 gian để sử dụng trên một phần diện tích đất được cho. Sau đó bố chị là ông Lý Kim T2 đã chia diện tích đất này thành 03 thửa, cho chị 01 thửa, cho chị Bùi Thị N 01 thửa còn 01 thửa cho bà Dương Thị K. Việc chia này chỉ bằng lời nói và phân định ranh giới, không có văn bản. Thửa đất chị được ông Lý Kim T2 chia có tứ cận xác định như sau: Phía Bắc giáp sân vận động, phía Tây giáp nhà ông Đỗ Xuân S, phía Nam giáp đường Phạm Văn Đ1, phía đông nam giáp nhà Bùi Thị N, phía đông bắc giáp nhà ông Lương Văn L3. Năm 1985 chị đã chia đôi một nửa diện tích khoảng 227 m² cho bà Dương Thị K, nửa còn lại chị dựng thêm một ngôi nhà gỗ ba gian vào năm 1987, bà K đổi cho chị một diện tích khác giáp đường Phạm Văn Đ1. Năm 1999 Nhà nước mở rộng đường Phạm Văn Đồng, chị chuyển xuống thửa đất giáp đường Phạm Văn Đ1 đã đổi cho bà K trước đó để sinh sống. Diện tích 162,4 m² chị vẫn sử dụng trồng rau và cho học sinh ở trọ tại căn nhà tre. Năm 2004 khi đi Đài Loan chị có nhờ bà Nguyễn Thị N1 tại tổ H thị trấn Y, huyện L bảo quản trông nom hộ thửa đất. Năm 2013 Nhà nước tiến hành đo đạc, thửa đất số 171 diện tích 162,4 m² tại tổ H thị trấn Y, huyện L (Là thửa đất tranh chấp bây giờ) mang tên người sử dụng là Lý Thị Liêu . Thời điểm đó bố chị là ông Lý Kim T2 và chị Lý Thị Bích L1 không có ý kiến gì, đất không có tranh chấp.
Năm 2014 khi quy hoạch sân vận động, Nhà nước đã cắt một phần diện tích đất làm sân, sau đó chị Lý Thị Bích L1 chiếm dụng thửa đất của chị để sử dụng. Quá trình hoà giải tại địa phương chị L1 có xuất trình một Di thư của ông Lý Kim T2 tặng, cho chị Lý Thị Bích L1 thửa đất có tứ cận như thửa số 171 diện tích 162,4 m² có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L và cho rằng thửa đất ông Lý Kim T2 để lại cho chị L1. Tuy nhiên chị khẳng định từ năm 1984 bố chị là ông Lý Kim T2 đã chia thửa đất cho chị quản lý, sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Diện tích đất 162,4 m² không còn là tài sản của ông Lý Kim T2 nên ông không có quyền tặng cho chị L1. Nay chị khởi kiện yêu cầu chị Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ tài sản trên đất trả lại cho chị diện tích đất tranh chấp là 162,4 m² nói trên.
Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Lý Thị Bích L1 trình bày:
Đầu năm 1984 bố chị là ông Lý Kim T2 đã xin của ông Nguyễn Khắc Đ một mảnh nương sắn và dựng một căn nhà tạm 03 gian cho các con ở để đi học. Sau khi em chị L4 Lý Thị Bích L học xong cấp Ba không ở căn nhà đó. Ông Lý Kim T2 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy phép sử dụng đất số 16/HC-UB ngày 11-2-1984 đối với thửa đất này có diện tích 200 m², ranh giới xác định như sau: Phía bắc giáp sân vận động, phía nam giáp đường Phạm Văn Đ1, phía đông giáp đất nhà ông Lương Văn H1, phía tây giáp đất nhà ông Trăng Văn T3. Năm 1987 chị Lý Thị Bích L xây dựng gia đình, bố chị đã cho chị L mượn dựng tạm căn nhà gỗ 03 gian giáp sân vận động để ở từ tháng 8-1987 đến tháng 8-1989. Năm 1989 Nhà nước mở rộng đường, gia đình đã thoả thuận miệng chia mảnh đất ông Lý Kim T2 được cấp cho hai chị em là Lý Thị Bích L1, Lý Thị Bích L ra giáp mặt đường (Có xác nhận của anh Hoàng Văn N2 chồng cũ của chị L); mảnh vườn phía sau là do ông Lý Kim T2 quản lý, làm nhà cho các cháu sang trọ học cấp ba. Đến khi ông Lý Kim T2 nghỉ hưu giao lại mảnh vườn trên cho vợ chồng chị quản lý. Năm 2011 huyện xây dựng sân vận động, bố chị đã đồng ý cho múc đất lấy mặt bằng để trồng rau. Ngày 21-3-2011 ông Lý Kim T2 đã viết giấy chuyển nhượng mảnh đất vườn này cho vợ chồng chị, sau đó chị đã san gạt tạo mặt bằng, xây tường rào thửa đất này. Khi làm sân vận động N4 đã lấy một phần thửa đất, có một phần thửa đất nằm trên đất nhà chị Nguyễn Thị T. Ngày 11-02-2021 bố chị mất, trước đó ông có Di thư (Đề ngày 19-02-2019) để lại mảnh vườn cho vợ chồng chị, D1 thư có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L. Vợ chồng chị đã trực tiếp sử dụng thửa đất này từ khi ông Lý Kim T2 nghỉ hưu. Nay chị Lý Thị Bích L khởi kiện yêu cầu chị thu dọn toàn bộ tài sản trên đất, trả lại diện tích đất tranh chấp nêu trên chị không đồng ý.
Tại văn bản ngày 22-6-2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Thửa đất tranh chấp giữa bà Lý Thị Bích L và bà Lý Thị Bích L1 có diện tích 162,4 m² chưa trừ diện tích hành lang bảo vệ công trình sân vận động (Khán đài C). Thửa đất do ông Lý Kim T2 sử dụng làm vườn từ năm 1984, liền kề và cùng thời điểm sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân huyện cấp theo giấy phép sử dụng đất số 16/HC-UB ngày 11-2-1984. Trong suốt quá trình sử dụng ông Lý Kim T2 không kê khai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (Đất vườn). Phần diện tích đất vườn trên không có giấy tờ gì về quyền sử dụng đất. Năm 1988 ông Lý Kim T2 chia phần đất ở phía tiếp giáp đường giao thông (Nay là đường P) cho bà Lý Thị Bích L và bà Lý Thị Bích L1 sử dụng nhưng không chia phần diện tích đất vườn. Phần đất ở của bà L1 tiếp giáp với mảnh đất vườn đang tranh chấp, phần đất ở của bà L được chia không tiếp giáp với mảnh đất vườn, đang tranh chấp. Năm 2003 khi triển khai đo đạc lập bản đồ địa chính thị trấn Y, bà Lý Thị Bích L đăng ký tên kê khai đo đạc mảnh vườn tranh chấp (Thửa 95, tờ bản đồ số 14), bà L trồng cây tạp trên diện tích đất này. Năm 2005 bà L1 sử dụng trồng cây trên diện tích đất này và sử dụng từ đó cho đến nay. Năm 2019 ông Lý Kim T2 có lập Di thư để lại thửa đất trên cho bà Lý Thị Bích L1. Năm 2021 bà L1 làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên và cung cấp Di thư của ông Lý Kim T2 nhưng do không đủ điều kiện nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó phát sinh tranh chấp giữa bà L1 và bà L.
Lý do chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Đối với bà Lý Thị Bích L, thửa đất bị hạn chế sử dụng do không có lối vào. Trong suốt quá trình sử dụng, kê khai đo đạc lập bản đồ đến nay không đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kể cả khi thực hiện cấp đổi từ quyết định cấp đất ở sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L cũng không đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích này. Đối với bà Lý Thị Bích L1: Khi đề nghị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do không có đủ cơ sở nên thị trấn không xác định được nguồn gốc và quá trình sử dụng. Khi bà L1 cung cấp Di thư của ông Lý Kim T2 thì phát sinh tranh chấp, do đó không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ý kiến của UBND thị trấn Y, huyện L: Ông Lý Kim T2 từ trước đến nay không kê khai diện tích sử dụng đất nông nghiệp để nộp thuế. Ông T2 có Di thư khẳng định thửa đất vườn đó là của mình và để lại cho bà Lý Thị Bích L1 nhưng bản thân không sử dụng liên tục (không ổn định), không rõ ràng. Bà Lý Thị Bích L có kê khai khi đo đạc cấp giấy nhưng không kê khai diện tích sử dụng đất nông nghiệp để nộp thuế và không đăng ký cấp giấy từ trước đến nay, nguồn gốc sử dụng đất không rõ ràng.
Ý kiến của những người làm chứng:
Ông Lương Văn L3 trình bày: Ông không có quan hệ họ hàng gì với chị Lý Thị Bích L, Lý Thị Bích L1. Ông không rõ thửa đất trồng sắn ông Đông G cho cô Liêu hay cho bố cô Liêu. Khoảng năm 1983- 1984 ông của cô Liêu đem vật liệu đến làm nhà cho cô Liêu ở để đi học cấp ba, có bà K cũng dựng nhà tạm ở đó. Sau khi lấy chồng là anh Hoàng Văn N2, vợ chồng chị L làm căn nhà khác để ở, căn nhà tạm trước đó dùng làm bếp. Khoảng năm 2004 cô Liêu đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, trước khi đi có nhờ ông trông nom hộ thửa đất.
Bà Lê Thị N3 trình bày: Bà không có quan hệ họ hàng gì với chị em chị Lý Thị Bích L1. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa chị Lý Thị Bích L và chị Lý Thị Bích L1 ngày xưa là nương sắn của ông Đông G bố chị Nguyễn Thị T. Nghe nói ông Đông G cho chị L thửa đất nhưng do chị L còn là học sinh nên có mời bố mẹ cô Liêu đến nói chuyện về việc cho cô Liêu thửa đất. Ông nội cô Liêu mang vật liệu sang làm căn nhà gỗ ba gian để cô Liêu ở đi học. Năm 1987 cô Liêu lấy chồng, sinh con ở luôn tại ngôi nhà đó. Sau khi chuyển đi chỗ khác, cô Liêu có cho bà mượn trồng cây. Khi Nhà nước làm sân vận động thì bà không sử dụng nữa vì không có đường đi. Năm 2004 cô Liêu đi xuất khẩu lao động có nhờ bà thỉnh thoảng trông nom hộ thửa đất. Khi thửa đất không còn lối vào bà không đi lại nữa, từ đó cô L1 sử dụng thửa đất này.
Ông Trắng Văn T4 trình bày: Ông là hàng xóm cùng tổ dân phố với chị em chị Lý Thị Bích L1. Năm 1983 ông bắt đầu dựng nhà ở khu vực này. Năm 1984 cô Liêu đến ở đó, nhà do ai làm thì ông không biết, thửa đất cô Liêu đến ở nghe nói là đất vườn sắn của nhà ông Đông G, một bên giáp đất nhà ông, một bên giáp đất nhà ông L3. Sau khi lấy chồng cô Liêu cũng ở tại thửa đất này, vào thời điểm đó khu vực này chưa nhà ai có giấy tờ về đất. Cô Liêu chuyển đi khi nào ông không biết.
Anh Nguyễn Văn Q trình bày: Anh là hàng xóm của chị L và chị L1. Năm 1986 gia đình anh chuyển về ở đối diện thửa đất nhà chị L, khi đó trên thửa đất có một căn nhà tre. Nguồn gốc thửa đất như thế nào anh không rõ. Năm 1987 chị L lấy chồng có làm một căn nhà gỗ trên thửa đất. Năm 1990 nhà cô Liêu có hạ thửa đất xuống. Sau khi cô Liêu đi xuất khẩu lao động, chồng con cô Liêu ở đó một thời gian rồi chuyển đi nơi khác, thửa đất để trống không ai sử dụng. Chị L1 sử dụng thửa đất này từ bao giờ anh không rõ.
Bà Lộc Thị B trình bày: Năm 1988 bà có mua thửa đất của bà K, vợ chồng bà sinh sống trên thửa đất đó đến năm 2000 thì chuyển nhượng lại cho chị Nguyễn Thị T, chồng tên là T5. Thửa đất phía sau nhà bà do vợ chồng chị L- anh N2 sử dụng, thửa đất của chị L1 ở phía trước. Nguồn gốc thửa đất của chị L như thế nào thì bà không nắm được.
Ông Nguyễn Khắc Í trình bày: Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa chị Lý Thị Bích L và chị Lý Thị Bích L1 là do ông khai phá để trồng sắn. Đến năm 1983 cô Liêu có đặt vấn đề xin 1/2 thửa đất để làm nhà ở đi học. Bố ông là Nguyễn Khắc Đ hỏi ý kiến ông, ông đồng ý và trực tiếp cho cô Liêu thửa đất này, việc cho không có giấy tờ mà chỉ yêu cầu bố cô Liêu là ông Lý Kim T2 đến bảo lãnh. Thửa đất cho cô Liêu diện tích là bao nhiêu ông không rõ chỉ nhớ một bên giáp với máy phát điện của huyện L, một đầu thì giáp gốc cây đa, một bên giáp đất trống sau này là sân vận động của huyện còn một mặt giáp đường đi. Thực tế là ông cho thửa đất cô Liêu chứ không phải cho ông T2. Sau đó cô Liêu làm 01 căn nhà tre (Nhà tạm) để ở đó đi học. Sau khi đã cho cô Liêu sử dụng gia đình ông cũng không quan tâm đến thửa đất này nữa.
Bà Nguyễn Thị G1 trình bày: Bà là con gái cả của ông Nguyễn Khắc Đ. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa chị Lý Thị Bích L và chị Lý Thị Bích L1 trước đây là nương sắn của gia đình bà. Ông Lý Kim T2 được bố của bà là ông Nguyễn Khắc Đ trực tiếp cho thửa đất này. Ông T2 có đặt vấn đề trả tiền nhưng bố của bà không nhận.
Ông Hoàng Văn N2 trình bày: Năm 1987 ông kết hôn với cô Lý Thị Bích L là con gái ông Lý Kim T2. Sau khi kết hôn vợ chồng ông làm một căn nhà gỗ ba gian trên mảnh đất giáp sân vận động của huyện. Nguồn gốc mảnh đất là nương sắn của ông Nguyễn Khắc Đ (Thường gọi là ông Đông G), ông Lý Kim T2 có xin của ông Đ để làm một gian nhà cho các con ở đi học. Chính xác thửa đất là ông Đ cho ông Lý Kim T2 chứ không phải cho cô Liêu vì lúc đó cô Liêu còn là học sinh. Khoảng năm 1989-1990 khi nhà nước làm đường, ông Lý Kim T2 chia đôi thửa đất phía mặt đường cho vợ chồng ông và cô Liêu một nửa, còn một nửa cho vợ chồng chị L1, anh H, hai diện tích đất này đã được cấp sổ đỏ. Phần đất phía sau chưa được cấp sổ đỏ vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Lý Kim T2.
Ngày 10-03-2023 Tòa án nhân dân huyện Lục Yên tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, xác định thửa đất tranh chấp có diện tích 184,8 m² (gồm thửa số 01 diện tích 36,5 m² và thửa số 02 diện tích 148,3m²). Trên đất có 06 cây sua khoảng 12 năm tuổi; 04 cây bưởi 05 tuổi; 01 cây mít 03 năm tuổi; 20 cây đinh lăng 04 năm tuổi. Toàn bộ số cây trên do bà L1 trồng, các đương sự không có tranh chấp về tài sản trên đất.
Tại Bản án sơ thẩm số: 10/2023/DS-ST ngày 17-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đã quyết định như sau:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Căn cứ Điều 203 Luật đất đai; Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc chị Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ tài sản trên đất và trả lại diện tích đất tranh chấp 162,4 m² thửa số 171 tại tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, lãi suất chậm trả, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 28-8-2023, nguyên đơn (do chị Nguyễn Thị T là người đại diện theo ủy quyền) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án phúc thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, trả lại thửa đất số 171 tại tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái cho bà L (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ).
- Ngày 14-9-2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 10/QĐ-VKS-DS kháng nghị Bản án số 10/2023/DS-ST ngày 17-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án sơ thẩm như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Bích L, buộc bà Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, trả lại thửa đất số 171 tại tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái cho bà L (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ). Buộc bà L1 phải chịu toàn bộ án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án triệu tập thêm 02 người làm chứng là ông Nguyễn Khắc L2 và bà Nguyễn Thị T1. Đồng thời, giao nộp tài liệu chứng cứ là Công văn số 1917/CCT-NV ngày 31-8-2023 của Chi cục thuế huyện L về việc trả lời đơn đề nghị của chị Lý Thị Bích L.
Tại đơn đề nghị ngày 16-10-2023 ông Nguyễn Khắc L2 trình bày: Năm 1982 chị Lý Thị Bích L ở xã T vào học cấp III tại thị trấn Y có quen biết em gái của tôi là Nguyễn Thị T, chị L nhận bố tôi là ông Nguyễn Khắc Đ là bố nuôi. Do chị L không có nơi ăn, chốn ở để đi học nên ông Đ đã hỏi ý kiến anh cả tôi là Nguyễn Khắc Í cho chị L đất nương sắn để làm nhà (anh Í đồng ý). Vì chị L lúc đó còn nhỏ nên ông Đ nói với ông T2 (bố chị L) đứng ra bảo lãnh cho chị L. Sau đó, anh Ích c mốc giới đất cho chị L khoảng 800m², có tứ cận như sau: Phía Đông giáp với máy nổ phát điện của huyện L; phía Tây giáp với vườn nhà ông Trắng Văn T4; phía Nam giáp đường P hiện nay; phía Bắc giáp với Sân vận động huyện L. Năm 1984, ông C là ông của chị L có dựng một ngôi nhà tre để cho chị L ở đi học. Tôi khẳng định thửa đất hiện đang tranh chấp giữa chị Lý Thị Bích L1 và chị Lý Thị Bích L là của chị L.
Tại bản tự khai ngày 01-10-2023 và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Tôi và chị Lý Thị Bích L có quen biết nhau, vì chị L chơi và học cùng với em gái tôi là Nguyễn Thị T. Năm 1983, anh trai tôi là Í có cho chị L nương sắn mà anh tôi khai phá để làm nhà tạm ở theo học cấp III. Lúc đó tôi có theo anh Í lên nương chỉ mốc cho L nhận đất (có bà N3 và ông L3 cùng biết). Sau đó, chị L đã ở trên mảnh đất đó, lấy chồng và sinh được 02 cháu. Từ đó về sau việc chia đất cho chị L1 thì tôi không rõ nữa.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Bị đơn chị Lý Thị Bích L1 không nhất trí với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số: 10/QĐ-VKS-DS ngày 14-9-2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Thủ tục phiên tòa đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự làm trong hạn luật định và hợp lệ.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái. Sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 17-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Bích L, buộc chị Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, trả lại thửa đất số 171 tại tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái cho chị L (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ).
- Về án phí và chi phí tố tụng: Buộc chị Lý Thị Bích L1 phải chịu án phí và chi phí tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai, xem xét tại phiên tòa, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên toà. Xét kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái và đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, đúng, đủ về hình thức và nội dung; người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Nên kháng nghị, kháng cáo của đương sự là hợp lệ và được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Năm 2003 khi Nhà nước đo đạc lập bản đồ tổng thể của huyện, thửa đất tranh chấp đã được chị L đứng tên kê khai đo đạc, thể hiện trên tờ bản đồ địa chính số 14 là thửa đất số 95 diện tích 162,4m² đất vườn tại tổ H thị trấn Y, huyện L mang tên Lý Thị Bích L. Thửa đất giáp ranh với đất Sân vận động và đất Hoàng Văn K1; thửa đất thổ cư số 96 Lý Thị Bích L1; thửa đất Nguyễn Ngọc T6 và thửa đất thổ cư số 94 Đỗ Xuân S. Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 03-5-2003 có các chủ đất ký tiếp giáp gồm: Nguyễn Ngọc T6, Hoàng Văn K1 và Nguyễn Xuân Đ2 (ký phần giáp ranh Sân vận động).
Tại tờ Bản đồ địa chính số 62 đo đạc năm 2013, xác định thửa đất nêu trên là thửa đất LNK số 171 diện tích 162,4m², tiếp giáp với đất: Sân vận động; thửa số 175 diện tích 262,2m²; đất CLN + ONT Lý Thị Bích Lan; đất Nguyễn Ngọc T6; đất ODT + HNK Đỗ Xuân S.
Thời điểm năm 2003 và năm 2013 khi đo đạc bản đồ địa chính của huyện L, ông T2 vẫn còn sống, chị L1 có đất giáp ranh với thửa đất tranh chấp nhưng không ai phản đối về việc chị L đứng tên kê khai đo đạc đối với thửa đất nêu trên. Trong Bản tự khai ngày 28-11-2022 (Bút lục 55, 56) và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm chị L1 đều thừa nhận: Năm 2013 khi cơ quan Nhà nước tiến hành đo đạc tổng thể, có đo lại thửa đất (hiện nay đang tranh chấp), chị L1 trực tiếp đi xác định và ký thay cho chị L, vì lúc này chị L đang ở Đài Loan. Mặt khác, chị L1 cũng thừa nhận khi Nhà nước quy hoạch sân vận động đã thu hồi một phần đất của chị L thì anh N2 (chồng chị L) đã ký vào hồ sơ và nhận tiền đền bù, anh N2 có chia cho chị L1 mấy chục nghìn tiền bồi thường gốc tre.
Như vậy, có cơ sở xác định: Chị L đã sử dụng thửa đất tranh chấp từ năm 1983, mặc dù không đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nộp thuế nông nghiệp, nhưng năm 2003 khi đo đạc tổng thể bản đồ địa chính, việc chị L kê khai và đứng tên người sử dụng nhưng chị L1, anh H và ông T2 không ai phản đối. Đến năm 2013 khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành đo đạc lại, vì chị L không có mặt ở địa phương, chị L1 là người ký tên hộ chị L chỉ dẫn để đo đạc và xác định là thửa đất số 171, diện tích 162,4m² là của chị L. Vì vậy, ông T2 và vợ chồng chị L1 đã thừa nhận quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên của chị L kể từ thời điểm chị L kê khai đo đạc.
Tại Di thư đề ngày 19-02-2019 của ông T2, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T ghi năm 2020, không rõ ngày, tháng xác nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, chị L1 đều khai sau khi ông T2 chết (ngày 11-02-2021) chị L1 mới biết có Di thư, chị L1 là người mang bản di thư đi pho to lại và lấy xác nhận của UBND xã. Tại Công văn số 33/CV-UBND ngày 09-8-2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L trả lời đơn của chị Lý Thị Bích L, có nội dung: Chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Kim B1, ông B1 xác nhận vào khoảng tháng 7/2020, nội dung ghi xác nhận là “Xác nhận của UBND xã, ông Lý Kim T2 khi viết di thư là hoàn toàn minh mẫn và tự nguyện, không có ai ép buộc gì, chữ ký của ông Lý Kim T2 là đúng”, còn chữ viết ghi ngày tháng năm ở bên dưới phần xác nhận của UBND xã không phải là chữ viết của ông Nguyễn Kim B1.
Ngoài ra, việc Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái chứng thực trong Giấy chuyển nhượng đất trong khi thửa đất có địa chỉ tại thị trấn Y, huyện L. Ông T2 không ký trước mặt người chứng thực (do chị L1 đến thực hiện) là không đúng thẩm quyền, thủ tục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 và khoản 1 Điều 24 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP; khoản 6 Điều 5 và khoản 3 Điều 36 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16-02-2015 của Chính phủ, về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.
Tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T có giao nộp chứng cứ là Công văn số 1917/CCT-NV ngày 31-8-2023 của Chi cục thuế huyện L, tỉnh Yên Bái trả lời đơn đề nghị của chị Lý Thị Bích L về việc xác minh việc nộp thuế hàng năm của chị L thể hiện về quá trình kê khai và nộp thuế như sau: Trên Sổ thuế nhà đất năm 2003, 2004, 2005, 2007 có phản ánh hộ gia đình chị L có kê khai và nộp thuế nhà đất đối với thửa đất tại tổ dân phố số H (nay là tổ E), thị trấn Y, huyện L. Các biên lai thuế từ năm 2013 trở về trước, cơ quan thuế đã thực hiện thanh hủy theo quy định. Do vậy, Chi cục thuế không cung cấp được theo đề nghị. Như vậy, càng thể hiện việc sử dụng đất của nguyên đơn là ổn định và có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Giấy chuyển nhượng đất vườn ngày 21-3-2011 và Di thư ngày 19-02-2019 không có giá trị pháp lý vì không thể hiện về việc ông T2 có kê khai sử dụng đất và đất không thuộc quyền của người để lại Di thư, nhận định chị L sử dụng đất có nguồn gốc không rõ ràng, không liên tục và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, là đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái và kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái và kháng cáo của nguyên đơn; sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Bích L, buộc chị Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, trả lại thửa đất số 171 tại tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái cho chị L (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ). Buộc chị L1 phải chịu toàn bộ án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
[3] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí; bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái và kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 17-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái như sau:
Căn cứ điều 203 Luật Đất đai; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 148; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Bích L, buộc chị Lý Thị Bích L1 phải thu dọn toàn bộ cây cối, trả lại thửa đất số 171 tại tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái cho chị L (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10-03-2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái).
- Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn chị Lý Thị Bích L không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; bị đơn chị Lý Thị Bích L1 phải chịu 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do nguyên đơn chị Lý Thị Bích L đã nộp số tiền này, nên chị Lý Thị Bích L1 phải trả cho chị Lý Thị Bích L số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Lý Thị Bích L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho chị Lý Thị Bích L số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2021/0002549 ngày 07-11-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái;
Bị đơn chị Lý Thị Bích L1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn chưa nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn chị Lý Thị Bích L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001062 ngày 31-8-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thu Hương |
Bản án số 29/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 29/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Lý Thị Bích L và bị đơn Lý Thị Bích L1
