Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Hoàng Quốc Toản.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với:

Bị cáo Phạm Lê Minh H, sinh ngày 09/8/2004 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; số thẻ CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ; con bà Phạm Thị L (chết); vợ con: Chưa có; nhân thân: Còn nhỏ sống với gia đình, học văn hóa đến lớp 11 thì nghỉ học, sau đó làm lao động tự do tại địa phương cho đến ngày phạm tội.

Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Phan Hà T, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ liên hệ: Số A đường N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Đặng Duy T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần ma tuý để sử dụng nên vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, Phạm Lê Minh H điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 92N1 - 359.09 (xe của chị Nguyễn Phan Hà T, sinh năm 2005, bạn của H) đến khu vực “B", đường T, phường Đ, thành phố H, để tìm mua ma tuý. Tại đây, H gặp 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 02 viên ma túy loại “thuốc lắc” và “Nữa hộp năm” ma túy loại “khay”, thì được nam thanh niên này báo giá là 2.000.000 đồng. H đồng ý mua và đưa tiền cho nam thanh niên này thì được người này đưa lại 01 khẩu trang y tế màu trắng, bên trong có chứa số ma tuý như H đặt mua. Sau khi có được ma tuý, H cất giấu vào túi áo khoác Jean bên phải đang mặc trên người, rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng thị xã H để tìm địa điểm sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đi đến đường V, thuộc Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (Một) khẩu trang y tế màu trắng, bên trong có chứa tổng cộng 02 (Hai) viên nén hình lăng trụ lục giác, màu trắng và 01 (Một) túi nilông màu trắng, viền đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong;

- 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 92N1-359.09, nhãn hiệu Honda Vison, màu đen.

Tại Bản kết luận giám định số: 38/KL-KTHS ngày 23/01/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận:

- 02 (hai) viên nén hình lăng trụ lục giác đều có màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 0,8748g (không phẩy tám bảy bốn tám gam) là ma tuý, loại: MDMA.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định, có khối lượng là: 1,6729g (một phẩy sáu bảy hai chín gam), là ma túy, loại Ketamine.

H1 lại đối tượng giám định gồm:

- 0,7248g (không phẩy bảy hai bốn tám gam) mẫu bột được nghiền từ 02 (hai) viên nén đều có màu trắng và 1,5729g (Một phẩy năm bảy hai chín gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; cùng các vật dụng dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra chứng minh xe mô tô 92N1-359.09 là của chị Nguyễn Phan Hà T, chị T cho H mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc H sử dụng xe để đi mua ma túy thì chị T không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Phan Hà T theo đúng quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS-HTh ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Phạm Lê Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Lê Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Lê Minh H từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, tại đường V, thuộc Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Phạm Lê Minh H đang tàng trữ trái phép 0,8748g (không phẩy tám bảy bốn tám gam), ma tuý, loại MDMA và 1,6729g (một phẩy sáu bảy hai chín gam), ma tuý, loại Ketamine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Phạm Lê Minh H tàng trữ trái phép 02 chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên việc tính tổng khối lượng để xác định tình tiết định khung hình phạt được tính như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu MDMA quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (0,8748/05g) x 100 = 17,496%;

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu Ketamine quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (1,6729/20g) x 100 = 8,3645 %.

Với tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: 17,496% + 8,3645% = 25,8605% (thuộc trường hợp dưới 100%) nên hành vi trên của Phạm Lê Minh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 29/CT-VKS-HTh ngày 23/4/2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Phạm Lê Minh H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm phát sinh nhiều tệ nạn khác, việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Bị cáo Phạm Lê Minh Hoàng p vào tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm ma tuý tại địa phương, do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra chứng minh xe mô tô biển kiểm soát: 92N1-359.09, nhãn hiệu Honda Vison, màu đen là của chị Nguyễn Phan Hà T, chị T cho H mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc H sử dụng xe để đi mua ma túy thì chị T không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Phan Hà T theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên toà không có ai yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong; bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Chu Văn P, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T và dòng chữ: “Hoàn mẫu vật vụ Phạm Lê Minh H, bắt ngày 17/01/2024” (Bên trong gói niêm phong ngoài ma túy hoàn lại còn có 01 (một) khẩu trang Y tế màu trắng là vật liệu bao gói lúc gửi giám định).

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Lê Minh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Phạm Lê Minh H 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong; bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Chu Văn P, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T và dòng chữ: “Hoàn mẫu vật vụ Phạm Lê Minh H, bắt ngày 17/01/2024” (Bên trong gói niêm phong ngoài ma túy hoàn lại còn có 01 (một) khẩu trang Y tế màu trắng là vật liệu bao gói lúc gửi giám định).

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Lê Minh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Lê Minh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger