TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số:29/2023/HNGĐ-PT Ngày: 28/11/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 20/2023/TLPT-HNGĐ ngày 5/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung vợ chồng”. Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2023/HNGĐ- ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXPT – HNGĐ ngày 18/10/2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số nhà C, đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H - Công ty L2 và Cộng sự, do ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Văn L đại diện.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chị H: Ông Nguyễn Thanh H2 và ông Hà Trọng Đ - Luật sư thuộc văn phòng L3 và Cộng sự.
Địa chỉ: Tầng B, Số nhà B, Khu đô thị mới quận C, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Huy H3, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H3: Bà Lương Thúy D và ông Đường Ngọc H4 – Luật sư Công ty L4 – Đoàn luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Số D T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Huy N, sinh năm 1942 và bà Lê Thị H5, SN 1945.
3.2.Chị Phạm Thị Hồng N1, sinh năm 1994.
3.3 Bà Phạm Thị T, sinh năm 1963.
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
3.4. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Số nhà C, đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H6, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Người kháng cáo: Anh Nguyễn Huy H3 - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2023/HNGĐ- ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như như sau:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn - chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Huy H3 được tự do tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012 tại nhà của bố mẹ anh H3. Ngày 27/8/2013, anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Trước khi kết hôn với nhau, chị và anh H3 đều đã từng kết hôn. Quá trình chung sống, anh chị có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H3 hay uống rượu, hay đánh con, vợ chồng không hợp nhau, gia đình anh H3 đã vu khống về việc chị lấy trộm của mẹ anh H3 05 chỉ vàng và 26 triệu đồng. Anh H3 cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị có quan hệ bất chính với anh T2 là không đúng. Chị đi khỏi nhà anh H3 vào khoảng tháng 2 năm 2017. Lý do là vì anh H3 hay say rượu, thường xuyên chửi bới chị, đánh đuổi chị và con nên chị mới bỏ anh H3 đi chứ không phải vì lý do chị ngoại tình, xấu hổ bỏ đi như anh H3 và người nhà anh H3 đã khai. Anh chị sống ly thân với nhau từ tháng 3/2017 đến nay. Anh H3 cũng có một vài lần tìm chị về nhưng chị xác định không còn tình cảm với anh H3 nữa nên chị không quay về. Nay, chị đề nghị được ly hôn với anh H3.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy H7, sinh ngày 19/02/2013, hiện nay cháu H7 đang ở với chị, ly hôn chị đề nghị được nuôi con và yêu cầu anh H3 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng 2.000.000đồng/tháng. Chị đang làm tự do và ở nhờ nhà mẹ đẻ tại thành phố H, thu nhập bình quân 8.000.000đồng/tháng. Nếu anh H3 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, chị không nhất trí.
- Về tài sản chung: Chị xác định trong quá trình chung sống, anh chị có tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số thửa 342, tờ bản đồ số 20, diện tích được cấp theo giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 165,9m², địa chỉ: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đất đã được Ủy ban nhân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/6/2016, tên chủ sử dụng là Nguyễn Huy H3 và Lê Thị H. Khi chị về chung sống cùng anh H, anh chị ở tại một gian nhà của gia đình anh H có từ trước. Khi đó, trên đất còn có 01 gian nhà tắm và 01 gian nhà cấp 4 ở vị trí giáp đường 5B. Do gian nhà cấp 4 giáp đường 5B cũ nát, chị và anh H đã phá gian nhà cấp 4, sửa chữa lại và chị bán hàng bánh kẹo, làm tóc ở gian nhà này (gian nhà này hiện cho thuê bán thuốc). Năm 2013, chị và anh H phá gian nhà cũ và xây dựng gian nhà chính cấp 4 lợp tôn, làm toàn bộ mái tôn xung quanh nhà chính, xây gian nhà bếp và nhà vệ sinh, cổng, tường bao (giáp với đường trục xã), làm sân. Chị không nhớ xây nhà tổng hết bao nhiêu tiền. Anh chị là người đứng ra thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng. Chị không nhớ mua vật liệu của ai, thuê ai làm nhà. Nhà tắm là do anh H làm từ trước khi kết hôn với chị, là tài sản riêng của anh H. Ngoài ra anh chị không còn tài sản nào khác. Nguồn tiền để kiến thiết các công trình trên đất của anh chị chủ yếu do chị vay của bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, tiền của riêng chị có trước khi kết hôn với anh H là 80.000.000đồng. Anh H không có tiền mà chỉ có công sức. Trước khi kết hôn với anh H, chị làm tóc, thu nhập bình quân chị không nhớ. Sau khi kết hôn với anh H, chị bán hàng bánh kẹo, tạp hóa, đến khi sinh con thì chị không bán hàng nữa. Khi con được hơn một tuổi, chị đi làm may, thu nhập bình quân là 3.0.00.000đ/tháng. Anh H không làm gì, thỉnh thoảng có ai thuê thì làm. Năm 2015, bố mẹ anh H cho anh chị thửa đất trên. Khi làm thủ tục tặng cho vợ chồng chị, ông bà hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Chị đề nghị Tòa án chia thửa đất và tài sản trên đất (như kết quả thẩm định của Tòa án) nêu trên cho chị và anh H theo quy định của pháp luật. Giao thửa đất cho anh H sử dụng và anh H phải trả cho chị trị giá tài sản bằng tiền.
Sau đó chị H thay đổi lời khai và trình bày: Năm 2013, anh chị cùng nhau góp tiền xây dựng ngôi nhà cấp 4, lán tôn, công trình phụ bằng tiền chung của anh chị. Anh H là người đứng ra mua nguyên vật liệu hoàn thiện căn nhà, lán tôn và công trình phụ. Bản thân chị làm công việc gia đình và phụ giúp anh H trong việc xây nhà. Anh H là người liên hệ với những người đã bán nguyên vật liệu và có nói với chị nhưng thời gian đã lâu, chị không nhớ rõ. Chị đề nghị chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Hiện nay mẹ con chị chưa có chỗ ở ổn định, phải ở nhờ nhà mẹ đẻ chị. Chị đề nghị được nhận bằng hiện vật là nhà đất và trả chênh lệch cho anh H bằng tiền. Chị không đồng ý với giá đất do Hội đồng định giá đã kết luận.
- Về nợ chung: Ban đầu, chị H khai anh chị còn nợ bà T1 8.000.000đồng. Sau đó, chị lại khai anh chị con nợ bà T1 50.000.000đồng. Về số tiền nợ bà T, chị H khai anh chị nợ 10.000.000đồng. Hai khoản nợ của bà T1 và bà T, anh chị vay vào khoảng tháng 5 năm 2013 để làm nhà. Khi vay tiền, hai bên không thỏa thuận phải trả lãi, không lập bất kỳ giấy tờ gì. Anh H là người trực tiếp nhận số tiền vay của bà T và bà T1. Sau đó anh H đưa cho chị và chị là người trực tiếp dùng số tiền đó đi trả tiền mua nguyên vật liệu để về xây nhà, chị không nhớ là đã trả tiền cho ai. Chị đề nghị anh H phải cùng chị có trách nhiệm trả số nợ chung này, mỗi người phải trả số tiền là 30.000.000đồng. Ngoài ra, anh chị không có khoản nợ chung nào khác.
Đối với người đang thuê căn nhà cấp 4 để bán thuốc, chị đồng ý để họ tiếp tục thuê theo hợp đồng đã ký kết.
* Bị đơn anh Nguyễn Huy H3 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, anh H3 thống nhất với ý kiến trình bày của chị H3. Anh chị chung sống bình thường đến ngày 29/7/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thời gian đó bố anh đi phẫu thuật ở bệnh viện, anh phải đi trông nom, chị H3 mang nhân tình về ngủ tại nhà anh và bị em gái anh là Nguyễn Thị H6 và chị gái anh là Nguyễn Thị N2 bắt được, chị H3 đã chạy trốn, đến ngày hôm sau chị H3 mới về. Sau đó, chị H3 nói đi làm công ty và ở nhà anh khoảng 01 tháng nữa thì bỏ đi hẳn. Anh không đánh không đuổi chị H3. Anh đến nhà mẹ đẻ chị H3 tìm để bảo chị H3 quay về chung sống cùng anh nhưng chị H3 không đồng ý. Từ đó, anh chị sống ly thân. Đến nay, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, chị H3 xin ly hôn, anh đồng ý.
- Về quan hệ con chung: Anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Huy H7, sinh ngày 19/02/2013. Khi chị H3 bỏ nhà đi vào tháng 8 năm 2016, chị H3 không mang theo con và để một mình anh nuôi. Đến tháng 3 năm 2018, chị H3 và bố mẹ nuôi chị H3 đến mẫu giáo đón con đi. Từ đó, chị H3 không mang con về với anh nữa. Anh cùng người nhà sang nhà mẹ chị H3 nhiều lần để tìm con nhưng không gặp được vì chị H3 mang con đi chỗ khác và không có địa chỉ. Khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu chị H3 cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh làm lao động tự do, thu nhập bình quân 7.000.000đồng/tháng. Anh có nhà riêng để ở và đủ điều kiện để nuôi con. Nếu chị H3 được nuôi con, anh không nhất trí thực hiện cấp dưỡng nuôi con vì ai nuôi con người đó phải tự có trách nhiệm.
- Về tài sản chung: Về thửa đất số 324, tờ bản đồ số 20, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh H3 và chị H3 ngày 16/6/2016. Nguồn gốc thửa đất này là của bố mẹ đẻ anh cho vợ chồng. Năm 2014-2015, anh và chị H3 xây dựng ngôi nhà chính (nhà cấp 4 lợp tôn). Trước khi kết hôn với chị H3, anh đã chuẩn bị gạch, vôi,.... để làm nhà. Nguồn tiền để xây căn nhà chính là do bố anh cho 70 triệu đồng; tiền bán vôi, gạch, vật liệu xây dựng của anh có trước khi kết hôn với chị H3 được 50 triệu đồng; anh cho người khác thuê nhà trong 02 năm họ trả trước 35 triệu đồng; tiền anh làm cơ khí được khoảng hơn 30 triệu đồng. Tổng số tiền xây căn nhà đó mất khoảng 130 triệu đồng đều do anh bỏ tiền ra chi trả, số tiền còn lại anh sử dụng vào việc gia đình. Chị H3 không đóng góp gì. Chị H3 khai phải vay mượn tiền để xây nhà là không đúng vì tiền anh có, anh cũng đã chuẩn bị trước các nguyên vật liệu nên anh không phải vay tiền của ai. Căn nhà cấp 4 (đang cho thuê) là do bố mẹ anh xây từ năm 1990. Người thuê tự sửa sang theo ý của họ, anh chị không đóng góp công sức gì, không đầu tư, không sửa sang gì vào căn nhà này. Anh nhất trí theo kết quả định giá của Hội đồng định giá. Anh xác định nhà đất này không phải là của vợ chồng vì bố mẹ anh cho anh và chị H3 để ở, sau này cho con trai của anh chị. Anh không đồng ý chia cho chị H3 tài sản là nhà đất bằng bất cứ hình thức gì. Nhà đất này hiện nay không tranh chấp với ai, không tranh chấp với hàng xóm xung quanh, không cầm cố thế chấp. Anh chị không có tài sản chung nào khác.
- Về nợ chung: Anh chị không nợ ai nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Tất cả các khoản nợ mà chị H3 khai với Tòa án là không đúng, anh không vay nợ của ai nên anh không có trách nhiệm trả những khoản nợ đó. Nếu chị H3 có căn cứ chứng minh được các khoản nợ đó là nợ chung của anh chị thì anh sẽ có trách nhiệm trả nợ một nửa số tiền trong tổng số nợ chung của vợ chồng.
Đối với chị N1 - người thuê căn nhà cấp 4 để bán thuốc, anh H3 đồng ý để chị N1 tiếp tục thuê theo hợp đồng mà anh đã ký với chị N1. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cho chị N1 thuê nhà trong vụ án này.
* Người có quyền lợi liên quan:
- Bà Phạm Thị T trình bày: Bà là mẹ nuôi của chị H3. Vợ chồng bà cho anh H3 và chị H3 vay số tiền 10.000.000đồng để anh chị làm nhà vào năm 2013. Khi vay tiền, cả anh H3 và chị H3 cùng đến nhà bà hỏi vay và nhận tiền đầy đủ. Do chị H3 là con nuôi của ông bà nên ông bà không yêu cầu anh chị viết giấy tờ. Từ đó đến nay, anh chị chưa trả cho bà. Nay anh chị ly hôn, bà đề nghị anh H3 và chị H3 có trách nhiệm trả cho bà số tiền là 10.000.000đồng, không yêu cầu phải trả tiền lãi.
- Bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà cho vợ chồng anh H3 vay số tiền 50.000.000đồng từ năm 2013. Vì là mẹ con nên hai bên không làm bất kỳ giấy tờ gì về việc vay mượn này, bà đưa tiền cho cả hai anh chị, ngoài ra không có ai chứng kiến. Nay bà yêu cầu anh H3 và chị H3 phải có trách nhiệm trả bà số tiền gốc là 50.000.000đồng, bà không yêu cầu anh chị phải trả tiền lãi.
- Ông Nguyễn Huy N và bà Lê Thị H5 trình bày: Năm 2013, anh H3 kết hôn với chị H3. Chị H3 không có nghề nghiệp gì, chỉ ở nhà nuôi con và ăn chơi. Năm 2016, ông bị ốm nằm viện. Khi ra viện, ông được người nhà kể lại trong lúc ông nằm viện, chị H3 mang nhân tình về nhà ngủ. Sau đó chị H3 xấu hổ bỏ nhà đi. Về thửa đất có số thửa 342, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Chủ sử dụng: Nguyễn Huy H3 và Lê Thị H. Thửa đất này có nguồn gốc là của vợ chồng ông. Khi anh H lấy người vợ đầu tiên, ông đã để cho vợ chồng anh H sử dụng thửa đất này. Vợ chồng anh H ly hôn, anh H vẫn sử dụng thửa đất trên. Năm 2013, chị H về sống cùng anh H. Năm 2016, ông bà tự nguyện làm thủ tục cho anh H và chị H đứng tên chủ sử dụng thửa đất nêu trên, không có ai lừa dối, không có ai ép buộc ông bà. Lúc đó, vợ chồng anh H và chị H đã có một cháu trai nên ông bà nghĩ là về già sẽ ở với anh chị nên mới đồng ý làm thủ tục sang tên đất cho anh chị. Nếu anh H và chị H tiếp tục ở với nhau thì ông bà vẫn đồng ý cho anh chị sử dụng thửa đất trên. Nay anh chị ly hôn, ông bà không cho anh chị thửa đất trên nữa mà chỉ đồng ý cho riêng một mình anh H. Về tài sản trên đất: Căn nhà chính là do vợ chồng anh chị xây, vợ chồng ông cho riêng anh H 70 triệu đồng mua nguyên vật liệu, tiền công xây nhà. Trước khi xây nhà anh H đã chuẩn bị sẵn gạch, vôi, sắt.... Căn nhà cấp 4 hiện nay đang cho người khác thuê bán hàng thuốc là tài sản của ông bà. Ông bà xây dựng từ trước khi anh H lấy chị H. Căn nhà đó, ông bà cho riêng anh H, không cho chung vợ chồng anh H và chị H. Từ khi cho anh H căn nhà đó đến nay, vợ chồng anh chị vẫn để nguyên, không phá, không sửa hay tu bổ gì. Toàn bộ nhà tắm, công trình phụ anh H xây dựng từ trước khi kết hôn với chị H. Mái tôn anh H làm sau khi chị H đã bỏ đi. Kể từ sau khi Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H và chị H, ông bà không có khiếu nại gì, không có tranh chấp gì với anh H và chị H về việc anh chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay Tòa án giải quyết tài sản chung của anh chị, ông bà không có ý kiến gì. Toàn bộ số tiền, tài sản trên đất ông bà đã cho anh H, ông bà không yêu cầu anh H phải thanh toán trả ông bà bất cứ loại tiền gì có liên quan đến nhà đất đang tranh chấp.
- Chị Phạm Thị Hồng N1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Huy H3 ký hợp đồng thuê căn nhà cấp 4 nằm sát đường E ngày vào 14/6/2022. Theo hợp đồng, thời gian thuê là 05 năm, số tiền thuê là 2.000.000đ/tháng. Chị đã lắp đặt, sửa chữa một số hạng mục: cửa xếp, lắp camera, ốp gạch, sơn tường. Khi ký hợp đồng thuê nhà, chị chỉ gặp và ký kết với anh H3. Chị không gặp chị H3. Theo chị được biết thì căn nhà này được xây trên 20 năm rồi. Nhà rất cũ, trụ nhà đã nghiêng, tường xây vôi vữa đã mục nát nhiều chỗ. Chị không yêu cầu Tòa án định giá các tài sản chị đầu tư vào căn nhà vì chị có thể tháo dỡ mang đi. Chị không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết bất cứ nội dung gì trong vụ án này liên quan đến việc thuê nhà giữa chị và anh H3 cũng như các tài sản mà chị đã đầu tư vào ngôi nhà cấp 4 chị đang thuê.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị H6 trình bày: Chị là em gái của anh H3. Chị và anh H3, chị H3 không có mâu thuẫn. Chị ở ngay gần nhà anh H3 nên chị biết về cuộc sống của anh H3 và chị H3. Ngày 29/7/2016, bố chị đi phẫu thuật ở bệnh viện, anh H3 phải đi trông nom bố chị thì chị H3 ở nhà mang nhân tình về ngủ tại nhà. Chị và chị gái là Nguyễn Thị N2 bắt được. Công an xã có lập biên bản về sự việc. Sau đó, do xấu hổ với gia đình nên chị H3 bỏ đi không về chung sống cùng anh H3 nữa. Anh H3 đi tìm mấy lần nhưng chị H3 không về. Anh chị có một con chung tên là Nguyễn Huy H7. Khi chị H3 bỏ nhà đi vào tháng 8 năm 2016, cháu H7 vẫn ở nhà với anh H3. Đến tháng 3 năm 2018, chị H3 và bố mẹ nuôi chị H3 đến mẫu giáo đón cháu H7 đi. Anh H3 sang nhà bố mẹ chị H3 nhiều lần để tìm con nhưng không gặp được. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án giao cháu H7 cho anh H3 nuôi dưỡng vì anh H3 có việc làm, có thu nhập và có nhà riêng để bố con sử dụng.
Về thửa đang tranh chấp có nguồn gốc là của bố mẹ đẻ chị cho vợ chồng anh H3. Năm 2014-2015, anh H3 xây dựng ngôi nhà cấp 4 lợp tôn trên đất. Chị H3 không có tài sản và không có đóng góp gì. Hoàn toàn tiền làm nhà là của anh H3 bỏ ra, tiền công thợ do bố mẹ đẻ chị cho. Gia đình chị không đồng ý chia tài sản là nhà đất trên cho chị H3. Việc anh chị đứng tên đất là do bố mẹ chị cho anh chị để ở, để chăm sóc nhau, sau này cho lại con cái chứ không phải ly hôn thì chia ra. Nếu anh chị vẫn ở với nhau thì bố mẹ chị vẫn cho anh chị được sử dụng.
- Chị Dương Thị T3 trình bày: Chị T3 là hàng xóm của anh H3 và chị H3. Trước đây, khi anh H3 lấy người vợ đầu tiên, bố mẹ anh H3 đã cho anh H3 thửa đất đang tranh chấp. Ngôi nhà cấp 4 hiện nay cho thuê để bán thuốc đã được bố mẹ anh H3 xây dựng gần 30 năm nay. Trước khi anh H3 xây ngôi nhà chính, anh H3 đã có sẵn gạch, vôi và các vật liệu khác. Anh H3 là thợ cơ khí nên anh H3 tự mua và lợp tôn mái nhà. Chị H3 không có việc làm ổn định, về nhà anh H3 hầu như không làm gì.
Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy: Anh Nguyễn Huy H3 và chị Lê Thị H kết hôn và chung sống cùng nhau tại nhà bố mẹ chồng tại thôn T. Một thời gian sau, nghe thông tin từ gia đình anh H là chị H đã bỏ nhà đi từ năm 2016 do chị H ngoại tình nên xấu hổ tự bỏ nhà đi. Từ đó đến nay, chị H không về chung sống cùng anh H nữa. Chị H ở đâu địa phương không nắm được. Anh H vẫn sống ở địa phương và làm nghề tự do, có thu nhập, có nhà riêng để ở và đủ điều kiện nuôi con. Anh chị có 01 con chung, ban đầu cháu vẫn ở cùng anh H. Thời gian gần đây, chị H đã đón cháu đi cùng chị H.
Về thửa đất số 342, tờ bản đồ số 20, có địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chủ sử dụng là Nguyễn Huy H3 và Lê Thị H. Đất có nguồn gốc là do ông N và bà H5 tặng cho anh H chị H, có diện tích 165,9m². Trong đó có 65,1m² đất ở nông thôn, 100,8m² đất cây lâu năm (thời hạn đến năm 2043) và 64,5m² đất nằm trong hành lang đường 5B. Đối với diện tích đất nằm trong hành lang đường E, gia đình anh H được phép xây dựng nhà ở nhưng tuyến đường 5B đã được quy hoạch chỉ giới hành lang bảo vệ đường. Vì vậy, Ủy ban nhân dân xã K các hộ xây dựng công trình cấp 4, không xây dựng kiên cố. Khi Nhà nước thu hồi đất, gia đình sẽ được đền bù, hỗ trợ về đất theo quy hoạch. Công trình xây dựng sau thời điểm quy hoạch hành lang bảo vệ đường thì sẽ không được Nhà nước xem xét, hỗ trợ. So sánh diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì thấy: Diện tích đất hiện trạng là 159m², giảm so với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 6,9m². Lý do giảm là vì gia đình anh H đã hiến một phần đất làm đường và một phần do sai số do đo đạc và tính toán. Trong tổng số diện tích đất anh H và chị H được cấp, không phân định rõ vị trí nào là đất ở, vị trí nào là đất trồng cây lâu năm. Do đó, diện tích đất 6,9m² giảm so với diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm cả đất ở, đất trồng cây lâu năm và thuộc hành lang đường 5B. Diện tích đất trồng cây lâu năm của gia đình anh H nằm trong quy hoạch đất ở nông thôn, phần đất trồng cây lâu năm nằm trong hành lang đường 5B thì không đủ điều kiện chuyển mục đích thành đất ở. Diện tích đất trồng cây lâu năm nằm ngoài hành lang đường 5B thì đủ điều kiện chuyển mục đích thành đất ở tại nông thôn và phải nộp tiền sử dụng đất, các loại thuế phí theo quy định. Theo quy định của Luật đất đai thì đương sự không được xây dựng nhà trên đất trồng cây lâu năm khi chưa được chuyển mục đích sang đất ở nông thôn.
Kết quả thẩm định của Tòa án ngày 27/10/2022: Tổng diện tích đất hiện trạng gia đình anh H đang sử dụng là 159m2, trên đất có 01 nhà cấp 4; 01 Nhà bếp; Nhà tắm, mái bê tông cốt thép; 01 nhà cấp 4 giáp đường E; Mái proximang phía trước cửa nhà vệ sinh diện tích 10,9m²; Mái tôn giáp nhà chính cạnh đường trục xã diện tích 16m²; Mái tôn phía trước cửa nhà chính diện tích 26m²; 02 trụ cổng; 02 cánh cổng; Đoạn tường bao dài 18,01m cao 2,3m; 01 cây nhãn.
Kết quả định giá ngày 29/11/2022 như sau:
- Đất ở có giá là 25.000.000đ/m²; Đất trồng cây lâu năm có giá 80.000đ/m2.
- Tài sản trên đất: Nhà cấp 4 xây dựng năm 2013 diện tích 51,7m² có giá là 107.499.000đồng; Nhà bếp phía sau nhà chính diện tích 9,2m² có giá 2.196.000đồng; Nhà tắm, mái bê tông cốt thép có diện tích 7,9m² có giá 4.556.000đồng; 01 nhà cấp 4 làm quán bán thuốc diện tích 24m² có giá 15.581.000đồng; Mái proximang phía trước cửa nhà vệ sinh diện tích 10,9m², có giá 258.000đồng; Mái tôn giáp nhà chính cạnh đường trục xã diện tích 16m², có giá 4.348.000đồng; Mái tôn phía trước cửa nhà chính diện tích 26m², có giá 7.066.000đồng; 02 trụ cổng có giá 1.078.000đồng; 02 cánh cổng có giá 146.000đồng; Đoạn tường bao dài 18,01m cao 2,3m có giá 3.712.000đồng; 01 cây nhãn có giá 2.400.000đồng.
Do chị H yêu cầu định giá lại quyền sử dụng đất. Ngày 10/05/2023, Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương đã tiến hành định giá lại thửa đất trên. Kết quả như sau: Thửa đất có diện tích 159m². Đất ở có giá là 20.000.000đồng/m²; Đất trồng cây lâu năm có giá 80.000đồng/m².
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2023/HNGĐ - ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 59, điểm d khoản 2 Điều 62, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Nguyễn Huy H3.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Huy H7, sinh ngày 19/02/2013 cho chị Lê Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.200.000đồng/tháng kể từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.
- Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị H, anh Nguyễn Huy H3, chị Phạm Thị Hồng N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng thuê nhà giữa chị N1 và anh H3 trong vụ án này.
- Xác định tài sản riêng của anh Nguyễn Huy H3 gồm: 01 nhà tắm trị giá 4.556.000đồng và 01 cây nhãn trị giá 2.400.000đồng nằm trên thửa đất số 324, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Về tài sản chung:
- Xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của chị Lê Thị H và anh Nguyễn Huy H3 gồm: Quyền sử dụng thửa đất có số thửa 342, tờ bản đồ số 20, diện tích hiện trạng là 159m², trong đó có 62,39m² đất ở nông thôn trị giá 1.247.800.000đồng. Và 96,61m² đất trồng cây lâu năm trị giá 7.728.800đồng (làm tròn). Cộng bằng 1.255.528.000đồng (làm tròn).
- Tài sản trên đất gồm: Nhà cấp 4 diện tích 51,7m² có giá là 107.499.000đồng; Nhà bếp phía sau nhà chính diện tích 9,2m² có giá 2.196.000đồng; 01 nhà cấp 4 giáp đường 5B diện tích 24m² có giá 15.581.000đồng; Mái proximang phía trước cửa nhà vệ sinh diện tích 10,9m², có giá 258.000đồng; Mái tôn giáp nhà chính cạnh đường trục xã diện tích 16m², có giá 4.348.000đồng; Mái tôn phía trước cửa nhà chính diện tích 26m², có giá 7.066.000đồng; 02 trụ cổng có giá 1.078.000đồng; 02 cánh cổng có giá 146.000đồng; Đoạn tường bao dài 18,01m cao 2,3m có giá 3.712.000đồng. Cộng bằng 141.884.000đồng (làm tròn).
- - Chia cho chị Lê Thị H trị giá tài sản bằng: (1.255.528.000đồng +141.884.000đồng) x 30% = 419.223.600đồng.
- - Chia cho anh Nguyễn Huy H3 trị giá tài sản bằng: (1.255.528.000đồng +141.884.000đồng) x 70% = 978.188.400đồng.
- - Giao tài sản bằng hiện vật: Giao cho anh Nguyễn Huy H3 được quyền sử dụng thửa đất có số thửa 342, tờ bản đồ số 20, diện tích 159m², địa chỉ: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Trị giá 1.255.528.000đồng. Anh H3 còn được sử dụng các tài sản trên đất có tổng trị giá 141.884.000đồng.
- - Anh Nguyễn Huy H3 phải trả chênh lệch về tài sản cho chị Lê Thị H số tiền là 419.223.600đồng.
- Về nợ: Không chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T và bà Nguyễn Thị T1 về việc buộc anh Nguyễn Huy H3 và chị Lê Thị H phải có trách nhiệm chung trả cho bà T số tiền 10.000.000đồng, trả cho bà T1 số tiền 50.000.000đồng.
Xác định khoản nợ của bà Phạm Thị T và bà Nguyễn Thị T1 là khoản nợ riêng của chị Lê Thị H. Buộc chị H phải trả cho bà T và bà T1 số tiền này.
Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí thẩm định giá, lãi suất đối với số tiền chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm anh H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Cụ thể anh cho rằng nguồn gốc đất là của bố mẹ anh cho riêng anh nên anh không đồng ý chia tài sản cho chị H.
Tại phiên tòa, anh H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Chị H có quan điểm: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh H.
Cụ N3 có quan điểm không đồng ý chia tài sản cho chị H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H có quan điểm: Căn cứ vào nguồn gốc đất, căn cứ vào quá trình sử dụng đất cho thấy Tòa án sơ thẩm phân chia tài sản cho anh H và chị H theo tỷ lệ anh H được 70% giá trị tài sản. Chị H được hưởng 30% giá trị tài sản cũng là hợp lý. Tuy nhiên xét bản chất việc cụ N, cụ H5 cho anh H, chị H đất mục đích là sau này sẽ cho cháu H7 là con trai của anh chị, nên đề nghị Hội đồng xét xử có thể xem xét không chia phần đất này mà giao cho anh H quản lý, sử dụng để sau này khi cháu Hiệu trưởng t sẽ giao cho cháu H7 để thực hiện việc thờ cúng tổ tiên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H có quan điểm: Căn cứ vào hợp đồng tặng cho đất, căn cứ quá trình chị H ở trên đất có căn cứ xác định đất và 1 số tài sản trên đất là tài sản chung của anh H và chị H. Do chị H đang nuôi cháu H7 nên mặc dù chị H không kháng cáo nhưng vẫn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia tài sản cho chị H 40%, chia cho anh H 60%. Giao cho chị H quản lý, sử dụng đất. Chị H sẽ có trách nhiệm trả chênh lệch giá trị tài sản cho anh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cũng như căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa có cơ sở xác định thửa đất số 342, tờ bản đồ số 20, diện tích 159 m² là do ông N và bà H5 tặng cho anh H và chị H nên là tài sản chung của anh H và chị H. Tuy nhiên do nguồn gốc đất là của bố mẹ anh H cho vợ chồng, mặt khác chị H chỉ ở trên đất một thời gian ngắn nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho chị H 30% giá trị tài sản, anh H 70% giá trị tài sản là có căn cứ. Do hiện tại anh H không có chỗ ở nào khác và là đất của bố mẹ cho để thờ cúng tổ tiên, nên Tòa án cấp sơ thẩm giao đất cho anh H và buộc anh H phải trả giá trị tài sản cho chị H bằng tiền là có căn cứ. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Duy H8, Hội đồng xét xử thấy: Anh H8 kháng cáo không đồng ý phân chia tài sản cho chị H8 vì cho rằng diện tích đất 159 m² đứng tên anh và chị H8 là của bố mẹ anh cho riêng anh, với mong muốn vợ chồng sống hạnh phúc, sau này cho con trai anh là cháu Nguyễn Huy H7, nên anh không đồng ý chia đất hay bán đất cho bất kỳ ai. Tuy nhiên căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ kết quả xác minh cho thấy, mặc dù thửa đất số 342, tờ bản đồ số 20, diện tích hiện trạng là 159m² có nguồn gốc là của ông Nguyễn Huy N và bà Lê Thị H5 là bố mẹ đẻ của anh H8, nhưng từ năm 2016 ông N, bà H5 đã tặng cho anh H8 và chị H8. Thủ tục tặng cho được thực hiện theo đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật. Do vậy ngày 16/6/2016 anh H8, chị H8 đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án ông N và bà H5 cũng thừa nhận sau khi anh H8 và chị H8 kết hôn thì năm 2016 ông bà đã tự nguyện tặng cho anh H8 và chị H8 đất. Việc tặng cho là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc. Trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông N, bà H5 với anh H8, chị H8 cũng không thể hiện bất kỳ điều kiện nào đối với bên được tặng cho đất. Khi anh H8, chị H8 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên ông N, bà H5 cũng không có ý kiến gì. Do vậy theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( ngày 16/6/2016) thì anh H8, chị H8 đã là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất nêu trên. Trên cơ sở đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất số 342, tờ bản đồ số 20, diện tích hiện trạng là 159m² và 1 số tài sản trên đất do anh H8 chị H8 xây dựng là tài sản chung vợ chồng là có căn cứ.
Tuy nhiên khi xem xét phân chia tài sản chung vợ chồng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nguồn gốc đất, về quá trình sử dụng đất của anh H8 và chị H8 để phân chia tài sản. Cụ thể chia cho anh H8 70% giá trị tài sản, chia cho chị H8 30% giá trị tài sản, đồng thời do không thể phân chia tài sản bằng hiện vật nên giao toàn bộ tài sản cho anh H8 quản lý, sử dụng, buộc anh H8 phải có trách nhiệm trả giá trị tài sản cho chị H8 bằng tiền là hợp tình, hợp lý, phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự. Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Duy H8.
[3] Về án phí phúc thẩm: Anh H8 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Duy H8. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2023/HNGĐ- ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương về phần phân chia tài sản chung như sau:
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 59, điểm d khoản 2 Điều 62, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của chị Lê Thị H và anh Nguyễn Huy H3 gồm: Quyền sử dụng thửa đất có số thửa 342, tờ bản đồ số 20, diện tích hiện trạng là 159m², trong đó có 62,39m² đất ở nông thôn trị giá 1.247.800.000đồng; 96,61m2 đất trồng cây lâu năm trị giá 7.728.800đồng (làm tròn). Cộng bằng 1.255.528.000đồng (làm tròn).
Tài sản trên đất gồm: Nhà cấp 4 diện tích 51,7m² có giá là 107.499.000đồng; Nhà bếp phía sau nhà chính diện tích 9,2m² có giá 2.196.000đồng; 01 nhà cấp 4 giáp đường 5B diện tích 24m² có giá 15.581.000đồng; Mái proximang phía trước cửa nhà vệ sinh diện tích 10,9m², có giá 258.000đồng; Mái tôn giáp nhà chính cạnh đường trục xã diện tích 16m², có giá 4.348.000đồng; Mái tôn phía trước cửa nhà chính diện tích 26m², có giá 7.066.000đồng; 02 trụ cổng có giá 1.078.000đồng; 02 cánh cổng có giá 146.000đồng; Đoạn tường bao dài 18,01m cao 2,3m có giá 3.712.000đồng. Cộng bằng 141.884.000đồng (làm tròn).
- Chia cho chị Lê Thị H trị giá tài sản bằng: (1.255.528.000đồng +141.884.000đồng) x 30% = 419.223.600đồng.
- Chia cho anh Nguyễn Huy H3 trị giá tài sản bằng: (1.255.528.000đồng +141.884.000đồng) x 70% = 978.188.400đồng.
- Giao tài sản bằng hiện vật: Giao cho anh Nguyễn Huy H3 được quyền sử dụng thửa đất có số thửa 342, tờ bản đồ số 20, diện tích 159m², địa chỉ: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Trị giá 1.255.528.000đồng. Tứ cận của thửa đất: Phía nam giáp đường 5B, phía bắc giáp đất nhà chị H6, phía đông giáp đường trục xã, phía tây giáp nhà anh L1. Trên đất có: Nhà cấp 4 diện tích 51,7m²; 01 Nhà bếp phía sau nhà chính diện tích 9,2m²; 01 nhà cấp 4 (giáp đường 5B) diện tích 24m²; Mái proximang phía trước cửa nhà vệ sinh diện tích 10,9m²; Mái tôn giáp nhà chính cạnh đường trục xã diện tích 16m²; Mái tôn phía trước cửa nhà chính diện tích 26m²; 02 trụ cổng; 02 cánh cổng; Đoạn tường bao dài 18,01m cao 2,3m. Các tài sản trên đất có tổng trị giá 141.884.000đồng. (hình thể, kích thước các cạnh có sơ đồ kèm theo).
- Anh Nguyễn Huy H3 phải trả chênh lệch về tài sản cho chị Lê Thị H số tiền là 419.223.600đồng (bốn trăm mười chín triệu hai trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Duy H8 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh H8 đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004123 ngày 11/7/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách. Anh H8 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tạii các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 29/2023/HNGĐ-PT ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung vợ chồng
- Số bản án: 29/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung vợ chồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
