Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THUỶ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-ST

Ngày: 28-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Em
  2. Ông Nguyễn Đông Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLST-HS, ngày 22 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 7 năm 2023, Thông báo hoãn phiên toà số: 151/2023/TB-TA, ngày 14 tháng 8 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Đào Quang H, sinh ngày 08/5/2005 tại C, Hậu Giang; nơi thường trú: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn M và bà Trần Thị Chúc L; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/01/2022, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo chấp hành xong ngày 04/7/2022; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2023 đến ngày 10/01/2023 chuyện tạm giam cho đến nay, có mặt.
  2. Nguyễn Phi H1, sinh ngày 16/11/2004 tại C, Hậu Giang; nơi thường trú: ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện tại: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Kha Thị T1; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2023 đến ngày 10/01/2023 chuyện tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đào Quang H: Bà Phạm Ngọc H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H, có mặt.

Bị hại:

  1. Phan Thị Chúc P, sinh năm 1971, nơi thường trú: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện tại: Ấp X, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
  2. Trương Thị Thúy D, sinh năm 1995, nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
  3. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971, nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1966, nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
  2. Nguyễn Vĩnh T3, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
  3. Trần Thị Chúc L, sinh năm 1987, nơi cư trú: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; có mặt.
  4. Trương Minh S, sinh năm 1982, nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ ngày 07/01/2023, Đào Quang H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95H1-805.05 đi từ nhà H đến nhà của Nguyễn Phi H1 chơi. Sau đó, H1 rủ H đi lấy pô xe nhà anh K ở đường L. Nhưng khi đến nơi, K không có ở nhà nên H kêu H1 điều khiển xe chở về khu vực kênh 8.000 định qua nhà bạn tên T4, khi qua tới ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (chưa qua tới nhà T4), H thấy chị Phan Chúc P, chạy xe hiệu Vision từ trong nhà ra lộ nhỏ chạy ra hướng Quốc lộ F có đeo sợi dây chuyền vàng, H nảy sinh ý định cướp giật nên H kêu H1 quay lại áp sát xe chị P, Huy giật sợi dây chuyền của chị P bằng tay phải. Sau khi giật được sợi dây chuyền, chị P la lên và đuổi theo H và H1 một đoạn, H lấy bình xịt hơi cay (mua trên mạng) để trong túi áo khoát ra H xịt về hướng chị P thì chị P không đuổi theo nửa. H và H1 chạy ra Quốc lộ F về hướng thị trấn R, huyện C, H vào tiệm V1 do ông Nguyễn Thanh L1 làm chủ, H cầm sợi dây chuyền được 11.000.000 đồng H chia tiền cho H1 mỗi người 5.500.000 đồng. Sau đó, H và H1 về Một Ngàn mua đồ sửa xe cho H, rồi H đưa H1 về nhà, H đi mua 160.000 đồng ma túy đá về nhà để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện V bắt giữ, quá trình khám xét thu giữ nhiều đồ vật có liên quan đến vụ cướp giật và gói ma tuý đá H vừa mua.

Quá trình điều tra các bị can thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ngoài ra Đào Quang H và Nguyễn Phi H1 khai nhận còn thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 27/12/2022, Đào Quang H cùng với Nguyễn Phi H1 đi từ C về hướng Vị T trên Quốc lộ F bằng xe của H, biển kiểm soát 95H1-805.05 đến cầu A thì đi vào đường kênh 13.000 đi ra hướng xã V, V khi đi ra đến giáp Kênh N thì quẹo phải hướng ra chợ V2 đến cầu 13.000 lớn thì quay lại, khoảng nửa đường 13.000 lớn đến 13.000 nhỏ thuộc ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, thì H thấy chị Trương Thị Thúy D đang dừng xe nghe điện thoại H mới kêu H1 quay lại mục đích để giật cái điện thoại. H1 quay xe lại chạy xe áp sát vào chị D thì H giật chiếc điện thoại loại Iphone 13 màu vàng gold của chị D bằng tay phải. H1 chạy xe hướng ra chợ N1 khi ra đến chợ N1 thì vòng chạy về hướng Quốc lộ F. Đến chợ 7000 H mang điện thoại vừa cướp giật được vào tiệm điện thoại Nguyễn Tân do ông Nguyễn Vĩnh T5 làm chủ bán được 4.000.000 đồng. H và H1 chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng, rồi sau đó đi về.

Vụ thứ 2: Vào trưa ngày 30/12/2022, H cùng với H1 đi bằng xe của H, biển kiểm soát 95H1-805.05 đi từ Một Ngàn ra chợ R thì thấy có một xe mô tô hiệu Future biển kiểm soát 95H1-162.93 do ông Trần Văn L2, sinh năm 1955, đăng ký thường trú: ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang điều khiển chở bà Nguyễn Thị T2, tay trái bà T2 cầm túi xách đưa ra nên H nói với H1 giật túi xách đó H1 đồng ý chạy xe vượt lên thì H giật túi xách đó bằng tay phải rồi H1 chở H chạy thẳng đến một đoạn thì ra Quốc lộ F rồi vòng về Rạch G về 1000. Lúc H1 vừa chạy xe thì H vừa coi thấy bên trong túi xách có 202.000 đồng và một điện thoại Sony màn hình cảm ứng. Khi về Bảy N, H bán điện thoại tại tiệm N2 được 150.000 đồng. Còn túi xách loại da giống da cá sấu màu đen H đã ném xuống sông ngay tại cầu R. Số tiền 202.000 đồng H mua cơm vào nước uống còn lại tiền đưa cho H1, tiền bán điện thoại H sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐ-ĐGTS ngày 21/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, kết luận sợi dây chuyền vàng 18k của chị Phan Chúc P có giá trị 26.950.000đ (hai mươi sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).

Kết luận giám định số: 1149/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP., kết luận:

  • + 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 16,0456 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 58,93%, B (A2): 19,53%, Đ (Cu): 20,70%.
  • + 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính các hạt đá màu trắng, tổng khối lượng: 6,1151gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 61,24%, B (A2): 15,01%, Đ (Cu): 23,75%

Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐ-ĐGTS ngày 07/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận điện thoại Iphone 13pro Max của chị Trương Thị Thúy D có giá trị 23.000.000₫ (hai mươi ba triệu đồng).

Kết luận giám định số: 82/KL-KTHS ngày 21/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu tình thể chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1029 gam, loại Methamphetamine".

Đối với túi xách và điện thoại di động hiệu Sony của bà Nguyễn Thị T2 do không cung cấp đầy đủ thông tin nên Hội đồng định giá tài sản huyện P không đủ cơ sở định giá.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-HVT, ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Đào Quang H về “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Phi H1 về “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hành vi của bị cáo Đào Quang H là đủ yếu tố cấu thành “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Phi H1 là đủ yếu tố cấu thành “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đào Quang H phạm “tội cướp giật tài sản” và “tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Áp dụng: điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự
  • Xử phạt bị cáo Đào Quang H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản
  • Xử phạt bị cáo Đào Quang H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Tổng hợp cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam tạm giữ bị cáo.
  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H1 phạm “Tội cướp giật tài sản”
  • Áp dụng: điểm c, d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H1 từ 04 năm đến 05 năm tù về tội cướp giật tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam tạm giữ bị cáo.
  • - Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  1. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bình xịt hơi cay CS-Gas Silliarde 110ml của bị cáo H; 01 (một) áo khoát màu vàng dài tay, áo có mũ liền áo trước ngực áo có hoa văn tổng thể hình vuông của bị cáo H; 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có chiều dài 02cm. Bên trong chứa tinh thể.
  2. Đề nghị tịch thu sung quỹ: 01 (một) Xe Wave biển kiểm soát 95H1-805.05, Số máy: VTTJL1252FMH-U000478; Số khung: VTTWCHOK5UM000478 đã qua sử dụng, của bị cáo H
  3. Trả lại cho bị cáo Đào Quang H: 01 (một) ná thung; 01 (một) cái nón kết màu trắng bằng vải màu trắng có chữ US. POLO ASSN 1890 RALPH LAUREN; 01 (một) Nón kêt bằng vải màu trắng có chữ “G”; 01 (một) Một điện thoại điện thoại di động màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) giấy cầm đồ tên dịch vụ cầm đồ Đức A bên trong ốp lưng điện thoại màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) áo khoát màu đen, dài tay, có nón trùm đầu có chữ màu trắng INS trước ngực.
  4. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H1: 01 (một) điện thoại di động hiệu S2 J7 Prime màu trắng bạc, IMEI 1: 355228084471588/01, IMEI 2: 355229084471586/01
  5. Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) hợp đồng cầm cố tài sản của tiệm V3.
  6. Đã trả lại chủ sở hữu nên không xử lý các tài sản sau: Bà Phan Chúc P: 01 (một) đoạn dây chuyền nặng 16,0410 gam, 01 (một) mặt dây chuyền nặng 6,1102 gam; Bà Trương Thị Thúy D: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold, Số IMEI 1: 359664923843916; IMEI 2: 359664923923927370, đã qua sử dụng.
  7. Tiếp tục tạm giữ số tiền sau để đảm bảo thi hành án: Tiền Việt Nam 10.793.000 đồng tạm gửi tại kho bạc Nhà nước huyện V (G: Đào Quang H: 3.010.000đ; Nguyễn Phi H1: 3.783.000đ; bà Trần Thị Chúc L mẹ ruột bị can Đào Quang H nộp khắc phục số tiền 4.000.000₫).
  8. Các vật chứng không thu hồi được nên không xử lý: Đối với túi xách và thẻ ATM của bà Nguyễn Thị T2 sau khi các bị cáo cướp giật xong đã ném xuống sông ngay cầu R không đủ điều kiện để truy tìm thu hồi; Đối với điện thoại Sony của bà Nguyễn Thị T2 sau khi cướp giật được bị cáo H đã bán cho ông Nguyễn Vĩnh T3, nhưng ông T3 không biết điện thoại do phạm tội mà có nên đã bán cho người khác nên không thu hồi được.

- Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại Phan Chúc P đã nhận lại tài sản là sợi dây chuyền vàng nên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
  • Bị hại Trương Thị Thúy D đã nhận lại điện thoại di động nên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
  • Bị hại Nguyễn Thị T2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  • Ông Nguyễn Thanh L1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  • Ông Nguyễn Vĩnh T3 yêu cầu các bị cáo trả lại cho ông 4.000.000₫ (bốn triệu đồng) tiền ông mua điện thoại Iphone.
  • Bà Trần Thị Chúc L mẹ ruột bị can Đào Quang H đã nộp số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để khắc phục hậu quả cho bị can H nhưng không có yêu cầu gì đối với bị cáo H nên không xem xét.
  • - Người bào chữa cho bị cáo H trình bày quan điểm tranh luận: Thống nhất tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường, khi bị cáo phạm tội vẫn chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, gia đình bị có có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ phải dành nhiều thời gian lao động kiếm tiền nên bị cáo ít được quan tâm giáo dục, bị cáo có ông cố (ông ngoại của mẹ bị cáo) là người có công với cách mạng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp hơn mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường 2.000.000 đồng của bị cáo đối với yêu cầu của ông Nguyễn Vĩnh T3.
  • Bị cáo H thống nhất với ý kiến của người bào chữa và không tranh luận.
  • Bị cáo H1 không có ý kiến tranh luận.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị Chúc L không có yêu cầu hay ý kiến.
  • Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo H và bị cáo H1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Quá trình điều tra, truy tố xác định ông Trương Minh S không liên quan. Quá trình xét xử, Toà án căn cứ vào quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xác định lại tư cách của người tham gia tố tụng ông Trương Minh S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2.2] Xét thấy các ông bà Phan Thị C Phường, Trương Thị Thúy D, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thanh L1, Nguyễn Vĩnh T3, Trưng Minh S1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố Tụng hình sự cũng như ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về tội danh:

[3.1] Vào khoảng 9 giờ ngày 07/01/2023, Đào Quang H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95H1-805.05 đi từ nhà H đến nhà của Nguyễn Phi H1 chơi. Sau đó, H kêu H1 điều khiển xe chở đến khu vực kênh 8.000 định qua nhà bạn tên T4, khi qua tới ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (chưa qua tới nhà T4), H thấy chị Phan Chúc P chạy xe hiệu Vision từ trong nhà ra lộ nhỏ chạy ra hướng Quốc lộ F có đeo sợi dây chuyền vàng, H nảy sinh ý định cướp giật nên H kêu H1 quay lại áp sát xe chị P, Huy giật sợi dây chuyền của chị P bằng tay phải. Sau khi giật được sợi dây chuyền, chị P la lên và đuổi theo H và H1 một đoạn, H lấy bình xịt hơi cay (mua trên mạng) để trong túi áo khoát ra H xịt về hướng chị P thì chị P không đuổi theo nửa. H và H1 chạy ra Quốc lộ F về hướng thị trấn R, huyện C, H vào tiệm V1 do ông Nguyễn Thanh L1 làm chủ, H cầm sợi dây chuyền được 11.000.000 đồng. H chia tiền cho H1 mỗi người 5.500.000 đồng. Sau đó, H và H1 về Một Ngàn mua đồ sửa xe cho H, rồi H đưa H1 về nhà, H đi mua 160.000 đồng ma túy đá về nhà để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện V bắt giữ, quá trình khám xét thu giữ nhiều đồ vật có liên quan đến vụ cướp giật và gói ma tuý đá H vừa mua. Quá trình điều tra các bị cáo H và H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ngoài ra Đào Quang H và Nguyễn Phi H1 khai nhận còn thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản khác, cụ thể như sau: Vụ thứ nhất: Vào ngày 27/12/2022, Đào Quang H cùng với Nguyễn Phi H1 đi từ C đến V, đến đoạn đường 13.000 lớn đến 13.000 nhỏ thuộc ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, thì H thấy chị Trương Thị Thúy D đang dừng xe nghe điện thoại H mới kêu H1 quay lại mục đích để giật cái điện thoại. H1 quay xe lại chạy xe áp sát vào chị D thì H giật chiếc điện thoại loại Iphone 13 màu vàng gold của chị D bằng tay phải. H1 chạy xe hướng ra chợ N1 khi ra đến chợ N1 thì vòng chạy về hướng Quốc lộ F. Đến chợ G, H mang điện thoại vừa cướp giật được vào tiệm điện thoại Nguyễn Tân do ông Nguyễn Vĩnh T5 làm chủ bán được 4.000.000 đồng. H và H1 chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng rồi sau đó đi về; Vụ thứ 2: Vào trưa ngày 30/12/2022, H cùng với H1 đi bằng xe của H, biển kiểm soát 95H1-805.05 đi từ Một Ngàn ra chợ R thì thấy có một xe mô tô do ông Trần Văn L2 (sinh năm 1955, đăng ký thường trú: ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang) điều khiển chở bà Nguyễn Thị T2, tay trái bà T2 cầm túi xách đưa ra nên H nói với H1 giật túi xách đó H1 đồng ý chạy xe vượt lên thì H giật túi xách đó bằng tay phải rồi H1 chở H chạy thẳng đến một đoạn thì ra Quốc lộ F rồi vòng về Rạch G về 1.000. Lúc H1 vừa chạy xe thì H vừa coi thấy bên trong túi xách có 202.000 đồng và một điện thoại Sony màn hình cảm ứng. Khi về Bảy N, H bán điện thoại tại tiệm N2 được 150.000 đồng. Còn túi xách loại da giống da cá sấu màu đen H đã ném xuống sông ngay tại cầu R. Số tiền 202.000 đồng H đưa cho H1, tiền bán điện thoại 150.000 đồng H sử dụng.

[3.2] Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐ-ĐGTS ngày 21/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, kết luận sợi dây chuyền vàng 18k của chị Phan Chúc P có giá trị 26.950.000₫ (hai mươi sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).

Kết luận giám định số: 1149/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP., kết luận:

  • + 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 16,0456 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 58,93%, B (A2): 19,53%, Đ (Cu): 20,70%.
  • + 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính các hạt đá màu trắng, tổng khối lượng: 6,1151gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 61,24%, B (A2): 15,01%, Đ (Cu): 23,75%

Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐ-ĐGTS ngày 07/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận điện thoại Iphone 13pro Max của chị Trương Thị Thúy D có giá trị 23.000.000₫ (hai mươi ba triệu đồng).

Kết luận giám định số: 82/KL-KTHS ngày 21/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu tình thể chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1029 gam, loại Methamphetamine".

Đối với túi xách và điện thoại di động hiệu Sony của bà Nguyễn Thị T2 do không cung cấp đầy đủ thông tin nên Hội đồng định giá tài sản huyện P không đủ cơ sở định giá.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-HVT, ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Đào Quang H về “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Phi H1 về “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hành vi của bị cáo Đào Quang H là đủ yếu tố cấu thành “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Phi H1 là đủ yếu tố cấu thành “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đào Quang H phạm “tội cướp giật tài sản” và “tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Áp dụng: điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự
  • Xử phạt bị cáo Đào Quang H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản
  • Xử phạt bị cáo Đào Quang H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Tổng hợp cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam tạm giữ bị cáo.
  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H1 phạm “Tội cướp giật tài sản”
  • Áp dụng: điểm c, d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H1 từ 04 năm đến 05 năm tù về tội cướp giật tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam tạm giữ bị cáo.
  • - Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  1. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bình xịt hơi cay CS-Gas Silliarde 110ml của bị cáo H; 01 (một) áo khoát màu vàng dài tay, áo có mũ liền áo trước ngực áo có hoa văn tổng thể hình vuông của bị cáo H; 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có chiều dài 02cm. Bên trong chứa tinh thể.
  2. Đề nghị tịch thu sung quỹ: 01 (một) Xe Wave biển kiểm soát 95H1-805.05, Số máy: VTTJL1252FMH-U000478; Số khung: VTTWCHOK5UM000478 đã qua sử dụng, của bị cáo H
  3. Trả lại cho bị cáo Đào Quang H: 01 (một) ná thung; 01 (một) cái nón kết màu trắng bằng vải màu trắng có chữ US. POLO ASSN 1890 RALPH LAUREN; 01 (một) Nón kêt bằng vải màu trắng có chữ “G”; 01 (một) Một điện thoại điện thoại di động màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) giấy cầm đồ tên dịch vụ cầm đồ Đức A bên trong ốp lưng điện thoại màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) áo khoát màu đen, dài tay, có nón trùm đầu có chữ màu trắng INS trước ngực.
  4. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H1: 01 (một) điện thoại di động hiệu S2 J7 Prime màu trắng bạc, IMEI 1: 355228084471588/01, IMEI 2: 355229084471586/01
  5. Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) hợp đồng cầm cố tài sản của tiệm V3.
  6. Đã trả lại chủ sở hữu nên không xử lý các tài sản sau: Bà Phan Chúc P: 01 (một) đoạn dây chuyền nặng 16,0410 gam, 01 (một) mặt dây chuyền nặng 6,1102 gam; Bà Trương Thị Thúy D: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold, Số IMEI 1: 359664923843916; IMEI 2: 359664923923927370, đã qua sử dụng.
  7. Tiếp tục tạm giữ số tiền sau để đảm bảo thi hành án: Tiền Việt Nam 10.793.000 đồng tạm gửi tại kho bạc Nhà nước huyện V (G: Đào Quang H: 3.010.000đ; Nguyễn Phi H1: 3.783.000đ; bà Trần Thị Chúc L mẹ ruột bị can Đào Quang H nộp khắc phục số tiền 4.000.000₫).
  8. Các vật chứng không thu hồi được nên không xử lý: Đối với túi xách và thẻ ATM của bà Nguyễn Thị T2 sau khi các bị cáo cướp giật xong đã ném xuống sông ngay cầu R không đủ điều kiện để truy tìm thu hồi; Đối với điện thoại Sony của bà Nguyễn Thị T2 sau khi cướp giật được bị cáo H đã bán cho ông Nguyễn Vĩnh T3, nhưng ông T3 không biết điện thoại do phạm tội mà có nên đã bán cho người khác nên không thu hồi được.

- Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại Phan Chúc P đã nhận lại tài sản là sợi dây chuyền vàng nên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
  • Bị hại Trương Thị Thúy D đã nhận lại điện thoại di động nên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
  • Bị hại Nguyễn Thị T2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  • Ông Nguyễn Thanh L1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  • Ông Nguyễn Vĩnh T3 yêu cầu các bị cáo trả lại cho ông 4.000.000₫ (bốn triệu đồng) tiền ông mua điện thoại Iphone.
  • Bà Trần Thị Chúc L mẹ ruột bị can Đào Quang H đã nộp số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để khắc phục hậu quả cho bị can H nhưng không có yêu cầu gì đối với bị cáo H nên không xem xét.
  • - Người bào chữa cho bị cáo H trình bày quan điểm tranh luận: Thống nhất tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường, khi bị cáo phạm tội vẫn chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, gia đình bị có có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ phải dành nhiều thời gian lao động kiếm tiền nên bị cáo ít được quan tâm giáo dục, bị cáo có ông cố (ông ngoại của mẹ bị cáo) là người có công với cách mạng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp hơn mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường 2.000.000 đồng của bị cáo đối với yêu cầu của ông Nguyễn Vĩnh T3.
  • Bị cáo H thống nhất với ý kiến của người bào chữa và không tranh luận.
  • Bị cáo H1 không có ý kiến tranh luận.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị Chúc L không có yêu cầu hay ý kiến.
  • Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo H và bị cáo H1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Quá trình điều tra, truy tố xác định ông Trương Minh S không liên quan. Quá trình xét xử, Toà án căn cứ vào quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xác định lại tư cách của người tham gia tố tụng ông Trương Minh S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2.2] Xét thấy các ông bà Phan Thị C Phường, Trương Thị Thúy D, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thanh L1, Nguyễn Vĩnh T3, Trưng Minh S1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố Tụng hình sự cũng như ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về tội danh:

[3.1] Vào khoảng 9 giờ ngày 07/01/2023, Đào Quang H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95H1-805.05 đi từ nhà H đến nhà của Nguyễn Phi H1 chơi. Sau đó, H kêu H1 điều khiển xe chở đến khu vực kênh 8.000 định qua nhà bạn tên T4, khi qua tới ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (chưa qua tới nhà T4), H thấy chị Phan Chúc P chạy xe hiệu Vision từ trong nhà ra lộ nhỏ chạy ra hướng Quốc lộ F có đeo sợi dây chuyền vàng, H nảy sinh ý định cướp giật nên H kêu H1 quay lại áp sát xe chị P, Huy giật sợi dây chuyền của chị P bằng tay phải. Sau khi giật được sợi dây chuyền, chị P la lên và đuổi theo H và H1 một đoạn, H lấy bình xịt hơi cay (mua trên mạng) để trong túi áo khoát ra H xịt về hướng chị P thì chị P không đuổi theo nửa. H và H1 chạy ra Quốc lộ F về hướng thị trấn R, huyện C, H vào tiệm V1 do ông Nguyễn Thanh L1 làm chủ, H cầm sợi dây chuyền được 11.000.000 đồng. H chia tiền cho H1 mỗi người 5.500.000 đồng. Sau đó, H và H1 về Một Ngàn mua đồ sửa xe cho H, rồi H đưa H1 về nhà, H đi mua 160.000 đồng ma túy đá về nhà để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện V bắt giữ, quá trình khám xét thu giữ nhiều đồ vật có liên quan đến vụ cướp giật và gói ma tuý đá H vừa mua. Quá trình điều tra các bị cáo H và H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ngoài ra Đào Quang H và Nguyễn Phi H1 khai nhận còn thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản khác, cụ thể như sau: Vụ thứ nhất: Vào ngày 27/12/2022, Đào Quang H cùng với Nguyễn Phi H1 đi từ C đến V, đến đoạn đường 13.000 lớn đến 13.000 nhỏ thuộc ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, thì H thấy chị Trương Thị Thúy D đang dừng xe nghe điện thoại H mới kêu H1 quay lại mục đích để giật cái điện thoại. H1 quay xe lại chạy xe áp sát vào chị D thì H giật chiếc điện thoại loại Iphone 13 màu vàng gold của chị D bằng tay phải. H1 chạy xe hướng ra chợ N1 khi ra đến chợ N1 thì vòng chạy về hướng Quốc lộ F. Đến chợ G, H mang điện thoại vừa cướp giật được vào tiệm điện thoại Nguyễn Tân do ông Nguyễn Vĩnh T5 làm chủ bán được 4.000.000 đồng. H và H1 chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng rồi sau đó đi về; Vụ thứ 2: Vào trưa ngày 30/12/2022, H cùng với H1 đi bằng xe của H, biển kiểm soát 95H1-805.05 đi từ Một Ngàn ra chợ R thì thấy có một xe mô tô do ông Trần Văn L2 (sinh năm 1955, đăng ký thường trú: ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang) điều khiển chở bà Nguyễn Thị T2, tay trái bà T2 cầm túi xách đưa ra nên H nói với H1 giật túi xách đó H1 đồng ý chạy xe vượt lên thì H giật túi xách đó bằng tay phải rồi H1 chở H chạy thẳng đến một đoạn thì ra Quốc lộ F rồi vòng về Rạch G về 1.000. Lúc H1 vừa chạy xe thì H vừa coi thấy bên trong túi xách có 202.000 đồng và một điện thoại Sony màn hình cảm ứng. Khi về Bảy N, H bán điện thoại tại tiệm N2 được 150.000 đồng. Còn túi xách loại da giống da cá sấu màu đen H đã ném xuống sông ngay tại cầu R. Số tiền 202.000 đồng H đưa cho H1, tiền bán điện thoại 150.000 đồng H sử dụng.

[3.2] Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐ-ĐGTS ngày 21/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, kết luận sợi dây chuyền vàng 18k của chị Phan Chúc P có giá trị 26.950.000₫ (hai mươi sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).

Kết luận giám định số: 1149/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP., kết luận:

  • + 01 đoạn dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 16,0456 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 58,93%, B (A2): 19,53%, Đ (Cu): 20,70%.
  • + 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính các hạt đá màu trắng, tổng khối lượng: 6,1151gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 61,24%, B (A2): 15,01%, Đ (Cu): 23,75%

Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐ-ĐGTS ngày 07/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận điện thoại Iphone 13pro Max của chị Trương Thị Thúy D có giá trị 23.000.000₫ (hai mươi ba triệu đồng).

Kết luận giám định số: 82/KL-KTHS ngày 21/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu tình thể chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1029 gam, loại Methamphetamine".

Đối với túi xách và điện thoại di động hiệu Sony của bà Nguyễn Thị T2 do không cung cấp đầy đủ thông tin nên Hội đồng định giá tài sản huyện P không đủ cơ sở định giá.

[3.3] Theo quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự thì: 1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:... c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; .....; 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng". Theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mư bán, vận chuyển, sản suất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:....; c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, A1, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; .....; 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

[3.4] Bị cáo H tại thời điểm phạm tội có độ tuổi là 17 tuổi 07 tháng 30 ngày nên thuộc trường hợp người chưa thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự; Bị cáo H1 tại thời điểm phạm tội là đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Như vậy, hành vi của bị cáo H và H1 đã thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành “tội cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo H đã sử dụng bình xịt hơi cay xịt về phía bị hại để tẩu thoát nên thuộc trường hợp được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

[3.5] Ngoài ra, bị cáo H còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Hành vi này đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; bị cáo nhận thức rõ hành vi mua ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn mua về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng, đây là nguồn gốc phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác, hậu quả bị cáo gây ra thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo H đã thực hiện là đủ yếu tố cấu thành “tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3.6] Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng quy định pháp luật.

[4] Khi quyết định hình phạt Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4.1] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo H1 và H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nhưng cố ý thực hiện và hậu quả là gây thiệt hại về tài sản đối với các bị hại. Để có tiền tiêu xài cá nhân nhưng lại lười lao động nên các bị cáo đã thống nhất cùng nhau cướp giật tài sản nhiều lần của nhiều người, tuy nhiên các bị cáo không có sự phân công rõ ràng, chặt chẽ... nên cũng chỉ là đồng phạm giản đơn. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo H là người chưa thành niên nhưng cùng bị cáo H1 thực hiện tất cả các vụ cướp giật và là người phát hiện tài sản, tích cực trong hành vi cướp giật tài sản, chủ động sử dụng bình xịt hơi cay để xịt về phía bị hại nhằm tẩu thoát, thể hiện ý chí phạm tội đến cùng.

[4.2] Về tiền án, tiền sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo H1 không có tiền án, không có tiền sự. Theo “Lý lịch bị can” và “ Thống kê tiền án, tiền sự” thì bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật nên được coi là có nhân thân tốt; Bị cáo H không có tiền án, không có tiền sự. Nhưng theo “Lý lịch bị can” và “ Thống kê tiền án, tiền sự” thì bị cáo đã từng vi phạm pháp luật hình sự nên không được coi là có nhân thân tốt.

[4.3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình nộp 4.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Vĩnh T3 2.000.000 đồng. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Vĩnh T3 2.000.000 đồng. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.4] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề xuất mức hình phạt là tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội.

[4.5] Người bào chữa cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị là chưa tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra, chưa đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4.6] Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhưng Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét một mức án phù hợp vừa đủ để có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích và phòng ngừa tội phạm chung.

[4.7] Các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[5.1] Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bình xịt hơi cay CS-Gas Silliarde 110ml của bị cáo H; 01 (một) áo khoát màu vàng dài tay, áo có mũ liền áo trước ngực áo có hoa văn tổng thể hình vuông của bị cáo H; 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có chiều dài 02cm. Bên trong chứa tinh thể; Túi niêm phong của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh H số 82.2023 ngày 30/01/2023.

[5.2] Tịch thu sung quỹ: 01 (một) Xe Wave biển kiểm soát 95H1-805.05, Số máy: VTTJL1252FMH-U000478; Số khung: VTTWCHOK5UM000478 đã qua sử dụng, của bị cáo H

[5.3] Trả lại cho bị cáo Đào Quang H: 01 (một) ná thung; 01 (một) cái nón kết màu trắng bằng vải màu trắng có chữ US. POLO ASSN 1890 RALPH LAUREN; 01 (một) Nón kêt bằng vải màu trắng có chữ “G”; 01 (một) Một điện thoại điện thoại di động màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) giấy cầm đồ tên dịch vụ cầm đồ Đức A bên trong ốp lưng điện thoại màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) áo khoát màu đen, dài tay, có nón trùm đầu có chữ màu trắng INS trước ngực.

[5.4] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H1: 01 (một) điện thoại di động hiệu S2 J7 Prime màu trắng bạc, IMEI 1: 355228084471588/01, IMEI 2: 355229084471586/01

[5.5] Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) hợp đồng cầm cố tài sản của tiệm V3.

[5.6] Đã trả lại chủ sở hữu nên không xử lý các tài sản sau: Bà Phan Chúc P: 01 (một) đoạn dây chuyền nặng 16,0410 gam, 01 (một) mặt dây chuyền nặng 6,1102 gam; Bà Trương Thị Thúy D: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold, Số IMEI 1: 359664923843916; IMEI 2: 359664923923927370, đã qua sử dụng.

[5.7] Buộc các bị cáo nộp lại tiền do mua bán tài sản phạm tội mà có để sung quỹ nhà nước, bao gồm:

Bị cáo H nộp lại số tiền: 7.650.000 đồng

Bị cáo H1 nộp lại số tiền: 7.702.000 đồng.

[5.8] Tiếp tục tạm giữ số tiền sau để đảm bảo thi hành án: Tiền Việt Nam 10.793.000 đồng tạm gửi tại kho bạc Nhà nước huyện V (Gồm: Đào Quang H: 3.010.000 đồng; Nguyễn Phi H1: 3.783.000 đồng; bà Trần Thị Chúc L mẹ ruột bị can Đào Quang H nộp khắc phục số tiền 4.000.000 đồng).

[5.9] Các vật chứng không thu hồi được nên không xử lý, gồm: Đối với túi xách và thẻ ATM của bà Nguyễn Thị T2 sau khi các bị cáo cướp giật xong đã ném xuống sông ngay cầu R không đủ điều kiện để truy tìm thu hồi; Đối với điện thoại Sony của bà Nguyễn Thị T2 sau khi cướp giật được bị cáo H đã bán cho ông Nguyễn Vĩnh T3, nhưng ông T3 không biết điện thoại do phạm tội mà có nên đã bán cho người khác nên không thu hồi được.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

[6.1] Ông Nguyễn Vĩnh T3 yêu cầu các bị cáo trả lại cho ông 4.000.000 đồng tiền ông mua điện thoại Iphone. Các bị cáo thống nhất bồi thường, cụ thể mỗi bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng nên ghi nhận.

[6.2] Bị hại Phan Chúc P đã nhận lại tài sản là sợi dây chuyền vàng nên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[6.3] Bị hại Trương Thị Thúy D đã nhận lại điện thoại di động nên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[6.4] Bị hại Nguyễn Thị T2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[6.5] Ông Nguyễn Thanh L1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[6.6] Bà Trần Thị Chúc L mẹ ruột bị cáo Đào Quang H đã nộp số tiền 4.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị can H nhưng không có yêu cầu gì đối với bị cáo H nên không xem xét.

[6.7] Đối với ông Trương Minh S là người đứng tên (chủ sở hữu) chiếc xe mô tô có số máy: VTTJL1252FMH-U000478; số khung: VTTWCHOK5UM000478 mà bị cáo H sử dụng đi cướp giật tài sản bị tịch thu sung quỹ nếu có yêu cầu bồi thường thì có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo bồi thường bằng vụ kiện dân sự.

[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo H, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (đối với nghĩa vụ bồi thường) theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c, d, đ khoản 2 Điều 171; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 55, 90, 91, 101, 103 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Tuyên bố bị cáo Đào Quang H phạm tội cướp giật tài sản.
    • Xử phạt bị cáo Đào Quang H 03 (ba) năm tù.
    • Tuyên bố bị cáo Đào Quang H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
    • Xử phạt bị cáo Đào Quang H 01 (một) năm tù.
    • Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù.
    • Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/01/2023
    • Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
  2. Căn cứ vào điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H1 phạm tội cướp giật tài sản.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H1 04 (bốn) năm tù.
    • Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/01/2023
    • Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bình xịt hơi cay CS-Gas Silliarde 110ml của bị cáo H; 01 (một) áo khoát màu vàng dài tay, áo có mũ liền áo trước ngực áo có hoa văn tổng thể hình vuông của bị cáo H; 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có chiều dài 02cm. Bên trong chứa tinh thể; Túi niêm phong của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh H số 82.2023 ngày 30/01/2023.
    • Tịch thu sung quỹ: 01 (một) Xe Wave biển kiểm soát 95H1-805.05, Số máy: VTTJL1252FMH-U000478; Số khung: VTTWCHOK5UM000478 đã qua sử dụng, của bị cáo H
    • Trả lại cho bị cáo Đào Quang H: 01 (một) ná thung; 01 (một) cái nón kết màu trắng bằng vải màu trắng có chữ US. POLO ASSN 1890 RALPH LAUREN; 01 (một) Nón kêt bằng vải màu trắng có chữ "G"; 01 (một) Một điện thoại điện thoại di động màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) giấy cầm đồ tên dịch vụ cầm đồ Đức A bên trong ốp lưng điện thoại màu đen mật khẩu chữ L. SỐ IMEI: 354595389856551/01; 01 (một) áo khoát màu đen, dài tay, có nón trùm đầu có chữ màu trắng INS trước ngực.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H1: 01 (một) điện thoại di động hiệu S2 J7 Prime màu trắng bạc, IMEI 1: 355228084471588/01, IMEI 2: 355229084471586/01
    • Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) hợp đồng cầm cố tài sản của tiệm V3.
    • Vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS-HVT ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/5/2023 giữa Công an huyện V với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy.
    • Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chủ sở hữu nên không xử lý các tài sản sau: Bà Phan Chúc P: 01 (một) đoạn dây chuyền nặng 16,0410 gam, 01 (một) mặt dây chuyền nặng 6,1102 gam; Bà Trương Thị Thúy D: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold, Số IMEI 1: 359664923843916; IMEI 2: 359664923923927370, đã qua sử dụng.
    • Buộc các bị cáo nộp lại tiền do mua bán tài sản phạm tội mà có để sung quỹ nhà nước, bao gồm: Bị cáo Đào Quang H nộp lại số tiền 7.650.000 đồng (bảy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Phi H1 nộp lại số tiền 7.702.000 đồng (bảy triệu bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).
    • Trả lại cho bị cáo Đào Quang H số tiền 3.010.000 đồng (ba triệu không trăm mười nghìn đồng) và 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) (do bà bà Trần Thị Chúc L nộp khắc phục thay cho bị cáo Đào Quang H) nhưng đề nghị tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H1 là số tiền 3.783.000 đồng (ba triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng) nhưng đề nghị tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
    • Theo biên bản giao nhận tài sản số: 136/2023/BBBG-KBVT ngày 10/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Hậu Giang với Kho bạc Nhà nước V, tỉnh Hậu Giang).
  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
    • Buộc bị cáo Đào Quang H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Vĩnh T3 số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
    • Buộc bị cáo Nguyễn Phi H1 có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Vĩnh T3 số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
    • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  5. Án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • Buộc bị cáo Đào Quang H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Phi H1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
    • Buộc bị cáo Đào Quang H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Phi H1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - CQĐT Công an huyện Vị Thủy;
  • - CQ THAHS nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục THADS huyện Vị Thủy;
  • - Cổng TTĐT TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Quyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THUỶ, TỈNH HẬU GIANG về tội cướp giật tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 29/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cướp giật tài sản và Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THUỶ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger