Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28.5.2024.

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Tâm.
  2. Ông Dương Hồng Vinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Hoài – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Hà Thị L, sinh năm: 1989. Có mặt.
  • Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • * Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm: 1985 (Đã được Tòa án tuyên bố mất tích).
  • Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn – Bà Hà Thị L trình bày:

Bà Hà Thị L và ông Trần Văn Q tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2017, quyển số 02/07 ngày 23/01/2008.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống chung vợ chồng và rồi ông Q bỏ đi từ đó đến nay không liên lạc gì với gia đình. Trong thời gian đó, bà Hà Thị L và gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Năm 2023 bà Hà Thị L có yêu cầu và được Tòa án nhân dân huyện H đăng tin báo đài và đã tuyên bố ông Trần Văn Q mất tích theo Quyết định số: 02/2023/QÐST-VDS ngày 08/9/2023. Nay bà Hà Thị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn Q.

Về con chung: Bà Hà Thị L và ông Trần Văn Q có với nhau 02 con chung: Trần Hải Y, sinh năm 2009 và Trần Yến T, sinh năm 2010. Khi ly hôn, bà Hà Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, bà Hà Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

- Đối với bị đơn ông Trần Văn Q.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn Q hiện đã mất tích theo Quyết định số: 02/2023/QÐST-VDS ngày 08/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận nên không ý kiến trình bày. Tòa án nhân dân huyện H đã triệu tập, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, ông Trần Văn Q vẫn vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không tuân thủ đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Qua lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Bà Hà Thị L yêu cầu ly hôn, ông Trần Văn Q hiện đã mất tích. Xem xét tình trạng hôn nhân của bà Hà Thị L và ông Trần Văn Q thấy rằng mâu thuẫn giữa ông bà không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị L. Về con chung: Bà Hà Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Trần Hải Y, sinh năm 2009 và Trần Yến T, sinh năm 2010. Xem xét khả năng điều kiện nuôi con của bà Hà Thị L, hơn nữa ông Trần Văn Q hiện đã mất tích nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Hà Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật; Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Đơn khởi kiện của bà Hà Thị L được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Bà Hà Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Văn Q. Người bị kiện là ông Trần Văn Q có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn ông Trần Văn Q hiện đã mất tích nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn Q là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị L, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bà Hà Thị L và ông Trần Văn Q đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa ông bà nảy sinh theo như bà L trình bày là do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống chung vợ chồng nên xảy ra cãi vã to tiếng với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và rồi ông Trần Văn Q bỏ đi mất tích không còn tin tức từ năm 2012 đến nay.

Xem xét tình trạng hôn nhân giữa bà Hà Thị L và ông Trần Văn Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa bà L và ông Q đã xảy ra mặc dù ông bà đã tìm nhiều cách hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả và thực tế hiện nay, ông bà đã không còn tin tưởng, tôn trọng nhau. Quá trình giải quyết, ông Trần Văn Q hiện đã mất tích theo quyết định số: 02/2023/QĐST-VDS ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận nên vắng mặt không trình bày ý kiến. Tại phiên tòa ông Q vẫn vắng mặt, bà L vẫn kiên quyết ly hôn, chứng tỏ ông bà không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa ông bà đã thật sự đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị L là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà Hà Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Trần Hải Yến, sinh năm 2009 và Trần Yến Trang, sinh năm 2010. Xét yêu cầu nuôi con của bà Hà Thị L, Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian ông bà không sống chung với nhau, bà Hà Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, bà vẫn đảm bảo nuôi dạy con tốt. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu Yến và Trang về mọi mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Hà Thị L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Trần Hải Y, sinh năm 2009 và Trần Yến T, sinh năm 2010 là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vấn đề cấp dưỡng, bà Hà Thị L không yêu cầu ông Trần Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có.

[6] Về nợ chung: Không có.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bà Hà Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị L.
  2. Bà Hà Thị L được ly hôn với ông Trần Văn Q.

  3. Về con chung: Giao cho bà Hà Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Trần Hải Y, sinh năm 2009 và Trần Yến T, sinh năm 2010.
  4. Ông Trần Văn Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  5. Về án phí: Bà Hà Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Hà Thị L đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0014775 ngày 28.12.2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bà Hà Thị L đã nộp đủ tiền án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/5/2024). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND H;
  • - THADS H;
  • - UBND xã Y, HTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ – án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger