TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/8/2024
V/v “Tranh chấp HN - GĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Khắc Hoàn và bà Vũ Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa:
- - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985; địa chỉ: khu Đ, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
- - Bị đơn: anh Đồng Văn T, sinh năm: 1985; địa chỉ: khu Đ, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H khai: Chị H và anh Đồng Văn T tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 03 năm 2005 tại UBND xã T, huyện Y nay là phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại khu Đ, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xô xát. Anh T thường xuyên rượu chè, chửi bới, đánh đập chị, có lần còn xả bình gas doạ giết chị. Cả hai đã cố gắng hàn gắn và hai bên gia đình đã khuyên can, hoà giải nhưng không có kết quả. Đến nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên khởi kiện xin ly hôn với anh Đồng Văn T. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có 03 con chung là Đồng Minh T1, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Khi ly hôn, con chung Đồng Minh T1 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Toà án giải quyết, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không yêu cầu anh Đồng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đồng Văn T trình bày trong bản tự khai như sau: anh T và chị Nguyễn Thị Thu H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, (nay là phường T, thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh ngày 24 tháng 3 năm 2005. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống tại khu Đ, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc được vài năm, đến tháng 12 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H sau khi đi lao động nước ngoài về vô cớ chửi bới anh, dẫn đến việc hai vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau. Trong lúc vợ chồng xô xát, do nóng giận anh thừa nhận có việc xả bình gas nhưng chỉ là để doạ cho chị H sợ chứ không có ý định gây tổn hại cho chị. Cả hai đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị hiện đang sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Đến nay anh Đồng Văn T vẫn còn tình cảm với vợ, anh không đồng ý ly hôn, anh đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng anh quay về đoàn tụ. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có 03 con chung là Đồng Minh T1, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là Đồng Minh T1, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: anh và chị Nguyễn Thị Thu H tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên như sau:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2005 tại UBND xã T, huyện Y nay là phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được vài năm, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên anh chị thường xuyên xô xát và cãi nhau, thậm chí đánh nhau. Cả hai đã cố gắng hàn gắn và hai bên gia đình cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại, anh chị đã sống ly thân. Toà án đã nhiều lần triệu tập anh T đến làm việc nhưng anh T cố tình vắng mặt không có lý do. Đến nay chị Nguyễn Thị Thu H thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đồng Văn T. Quan điểm của đại diện khu phố là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết việc chị H xin ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có 03 con chung là Đồng Minh T1, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L sinh ngày 22/8/2015. Khi anh chị giải quyết ly hôn, quan điểm của khu phố là đề nghị Tòa án xem xét giao con chung cho người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có tài sản chung, có công nợ chung hay không, khu phố không nắm được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải số 115/TB-TA ngày 31/5/2024 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải số 130/TB-TA ngày 03/7/2024, Toà án thông báo cho các đương sự có mặt tại trụ sở Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, còn bị đơn anh Đồng Văn T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án đã lập Biên bản không mở được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy ý kiến, nguyện vọng của cháu Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và cháu Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Cháu Đồng Quốc T2 và Đồng Thị Khánh L có nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn, hai cháu muốn sống cùng mẹ là chị Nguyễn Thị Thu H vì ở với mẹ quan tâm chăm sóc dạy bảo cháu chu đáo.
- -Tại phiên toà sơ thẩm: nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đồng Văn T. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có 03 con chung là Đồng Minh T1, sinh ngày 09/7/2006, Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Khi ly hôn, con chung Đồng Minh T1 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Toà án giải quyết, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không yêu cầu anh Đồng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- -Bị đơn anh Đồng V T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, thể hiện:
- Về tình cảm: anh T không đồng ý ly hôn, đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ. Về con chung: anh T và chị Nguyễn Thị Thu H có 03 con chung là Đồng Thị Minh T3, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/03 cháu/01 tháng. Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
- -Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Đồng Văn T. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có 03 con chung là Đồng Minh T3, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Khi ly hôn, con chung Đ đã trưởng thành nên các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết. Giao 02 con chung Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đồng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- Về thủ tục tố tụng:
- -Về thẩm quyền xét xử của Tòa án: chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đồng Văn T hiện đang cư trú tại khu Đ, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- -Về việc xét xử có mặt đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nguyên đơn và bị đơn đến tham gia phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thu H có mặt, anh Đồng V T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 03 năm 2005 tại UBND xã T, huyện Y nay là phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại khu Đ, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xô xát. Anh T thường xuyên rượu chè, chửi bới, đánh đập chị, có lần còn xả bình gas doạ giết chị. Chị H và anh T đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Anh T muốn đoàn tụ với chị H nhưng anh không có biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Cả hai đã cố gắng hàn gắn và hai bên gia đình đã khuyên can, hoà giải nhưng không có kết quả. Đến nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị xin ly hôn với anh Đồng Văn T. Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể giải quyết được, giữa hai người không có khả năng đoàn tụ. Chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện xin ly hôn với anh Đồng Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
- - Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có 03 con chung là Đồng Minh T3, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015. Khi ly hôn, con chung Đồng Minh T3 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Toà án giải quyết. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không yêu cầu anh Đồng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Đồng Văn T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung Đồng Minh T3, sinh ngày 09/7/2006; Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 đến tuổi thành niên (đủ18 tuổi). Anh yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/03 cháu/01 tháng. Hội đồng xét xử thấy: chị Nguyễn Thị Thu H hiện đang làm nghề tự do, thu nhập 8.000.0000 đồng/ tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung. Hiện tại cháu Đồng Quốc T2 và Đồng Thị Khánh L đang sống cùng mẹ và các cháu đều có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung của chị H là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của hai con chung nên được chấp nhận.
- - Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Đồng Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; 58, 81,82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Đồng Văn T.
- Về con chung: Giao hai con Đồng Quốc T2, sinh ngày 07/12/2008 và Đồng Thị Khánh L, sinh ngày 22/8/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Đồng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đồng Văn T được quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. - Về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0003884 ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đồng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Hùng |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H - Đồng Văn T
